Vế đối mừng năm Sửu
Những năm 60 thế kỷ trước, các nhà văn quân đội đa số sống ở khu tập thể. Vào dịp tết Tân Sửu (1961), những đơn vị quanh khu vực đua nhau mổ trâu mừng năm mới. Ăn bữa cơm tất niên tiễn năm Canh Tý xong, mấy nhà văn ngồi quây quần bên cành đào, uống trà và tán gẫu, chờ phút giao thừa. Nhà văn Nguyễn Thi ngồi lặng thinh, thỉnh thoảng gật gù, có lẽ vì nỗi nhớ quê nhà ở miền Nam, nhưng phần khác cứ bị ám ảnh mãi về bữa thịt trâu thỏa thích hồi chiều. Nguyễn Thi chợt nảy ra vế đối liền đọc to:
- Tân là mới, sửu là trâu. Chén bữa thịt trâu mừng năm mới!
Nhà văn vừa đọc xong thì Xuân Thiều nghiêm trang bước vào cửa và đối lại:
- Canh là phòng, tý là chuột. Đuổi ngay lũ chuột rúc quanh phòng!
Đúng đến phiên đổi gác, Nguyễn Thi vội bước ra nhận khẩu súng từ tay bạn, miệng khen rối rít:
- Khá, khá lắm!
Vừa lúc đó thì pháo giao thừa Hà Nội bắt đầu nổ ran, báo hiệu năm Canh Tý đã hết, năm Tân Sửu đã bắt đầu.
![]() |
| Mục đồng thổi sáo (tranh Đông Hồ). |
Trâu lập công
Trong trận Bạch Đằng (1288), Trần Hưng Đạo cưỡi voi qua sông Hóa, không may voi bị sa lầy, ông đành phải xuống voi. Quân lính xúm lại ra sức đỡ voi lên mà không được. Con voi này từng đưa Trần Hưng Đạo xông pha trận mạc, sống chết có nhau, nay chẳng may gặp nạn, không biết làm gì hơn, ông đành để voi ở lại.
Lúc đó, có một cậu bé chăn trâu chạy lại thưa:
- Bây giờ voi không đưa ngài qua sông được nữa, xin Quốc công ngồi lên trâu của cháu, cháu sẽ dong trâu đưa ngài qua sông.
Hưng Đạo Vương nhìn cậu bé, mỉm cười gật đầu:
- Cháu giỏi lắm, thế thì cháu ngồi trước, ta ngồi sau.
Cậu bé nằng nặc xin ngồi sau, Trần Hưng Đạo bảo:
- Cháu phải ngồi trước mới cầm dây thừng dong trâu bơi được chứ.
Cậu bé lúc ấy mới chịu nghe lời. Trần Hưng Đạo quay lại nhìn con voi đang bị sa lầy lần cuối, Quốc công ứa nước mắt nói:
- Đến ngày thắng trận, ta sẽ dựng tượng voi và cả tượng con trâu bên bờ sông này.
Câu đối của Xuân Thiều
Có đôi vợ chồng trẻ là cháu họ xa của nhà thơ Xuân Thiều. Sắp hết năm Tý, bước sang năm Sửu, vợ chồng kéo nhau đến xin ông chú đôi câu đối làm sao cho hợp cảnh để về treo tết.
Cô vợ là nhân viên kế toán một công ty thương mại, tháo vát nhanh nhẹn nhưng đang dính líu một vụ tham nhũng tai tiếng. Anh chồng là kỹ sư xây dựng, chăm chỉ chịu khó, nhưng thường bị vợ chê là cù lần, không biết xoay xở làm ăn. Xuân Thiều nhận lời, hôm sau đem đến tận nhà các cháu đôi câu đối và nói:
- Câu đối này không phải để treo tết đâu, các cháu đọc và nhớ thôi.
Đôi vợ chồng trẻ đón lấy đôi câu đối và mở ra xem:
- Ả chuột thập thò hang chuột, để xem chuột nhắt chạy cùng sào, chẳng tránh khỏi cháy nhà ra mặt chuột.
- Chú trâu chăm chỉ thân trâu, chắc gì trâu chậm uống nước đục, để cuối cùng về ngõ nắm đuôi trâu.
Làm trâu
Bà Nguyễn Thị Hinh (1805 - 1848) mà sách vở thường viết dưới tên là Bà Huyện Thanh Quan (theo chức vụ của chồng) là một phụ nữ giỏi thơ phú. Khi ông huyện đương chức, đôi khi bà cũng xem xét công văn, giấy tờ, sổ sách giúp chồng. Những lúc ông huyện đi công cán, ở nhà nếu có ai đưa đơn hoặc xin phân xử việc gì, bà huyện cũng giải quyết, phê đơn thay chồng.
Một hôm, có ông cống nọ mới thi đỗ định giết trâu để khao làng xã, ngặt một nỗi triều đình có nghiêm lệnh cấm giết trâu, bò để bảo toàn sức kéo cho nhà nông. Bà huyện thông cảm với tâm lý của ông cống, không nỡ bác đơn làm ông ta buồn nên đã phê rất hóm hỉnh vào đơn:
Người ta thì chẳng được đâu.
Ừ thì ông cống… làm trâu thì làm.
Cái từ “làm” ở đây thật nhiều nghĩa. Ông cống đọc lời phê vừa mừng lại vừa buồn cười, vì “làm trâu” vừa có nghĩa là “làm thịt trâu” lại vừa có nghĩa là “làm giống trâu”.
Ông huyện về nhà biết chuyện này, không khỏi giật mình vì trái lệnh vua, nhưng vì quý nể vợ nên ông im lặng, không phàn nàn một câu nào!
Trạng Quỳnh chọi trâu
Sứ Tàu sang nước ta và đem theo một con trâu để thách đấu. Trâu của sứ Tàu to khỏe, hung hăng, nhắm bên nước ta không có trâu nào địch nổi. Triều đình nước ta rất lo lắng liền mời Trạng Quỳnh đến tìm cách đối phó. Trạng Quỳnh nghe xong liền tâu:
- Thần có một con trâu rất cừ, có thể địch nổi trâu Tàu. Nhưng trước khi đấu thì phải nhốt nó 3 ngày để huấn luyện theo một bí quyết mà không ai được biết. Sau 3 ngày thì đem trâu ra đấu, nếu thua thần xin chịu tội.
3 hôm sau, sứ Tàu đem trâu của họ ra đấu trường diễu võ dương oai. Trạng Quỳnh cũng thả trâu của mình ra trước sự ngạc nhiên của mọi người. Đó là một chú nghé ốm yếu chưa bỏ bú, bị nhốt trong chuồng tới 3 ngày, không cho ăn uống gì cả. Vừa thấy con trâu Tàu, nghé ngỡ là trâu mẹ liền xông đến thọc mõm vào bụng trâu mà sục sạo tìm vú. Con trâu đực của sứ Tàu tuy to lớn, hung hăng nhưng không đối phó được với tình huống này. Lúc đầu nó còn lúng túng lẩn tránh con nghé, sau nhột quá chịu không nổi phải nhảy cẫng lên rồi bỏ chạy. Trâu nghé ra sức bám theo…
Thấy thế, Trạng Quỳnh vỗ tay và mọi người đồng phụ họa reo to:
- Trâu Tàu thua chạy rồi, thua rồi!
Cả triều đình và dân nước ta đều reo hò mừng vui, chỉ có sứ Tàu là xịu mặt tiu nghỉu, không còn vênh váo, tự đắc như lúc ban đầu.
