Bước chuyển mình mạnh mẽ cho vùng Tây Bắc

Mới đây, Bộ trưởng Xây dựng đã ký Quyết định 246/QĐ-BXD, giao Ban Quản lý dự án đường sắt tổ chức lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, thời gian thực hiện 2025-2027. Nhân dịp này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi ý kiến với ông Nguyễn Khánh Tùng, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đường sắt chung quanh việc triển khai dự án quan trọng này.

Hướng tuyến dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

Hướng tuyến dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

PV: Thưa ông Nguyễn Khánh Tùng, xin ông giới thiệu đôi nét về dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng?

Ông Nguyễn Khánh Tùng: Theo Quy hoạch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, mạng lưới đường sắt gồm 25 tuyến, tổng chiều dài hơn 6.350km, gồm 7 tuyến đường sắt hiện hữu và 18 tuyến đường sắt mới, trong đó hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng có 2 tuyến, 1 là tuyến đường sắt hiện hữu, đường đơn, khổ 1.000mm, được tiếp tục duy trì, khai thác phù hợp với nhu cầu; 2 là tuyến đường sắt mới, đường đôi, khổ 1.435mm, tiến trình nghiên cứu, đầu tư trước năm 2030.

Ông Nguyễn Khánh Tùng Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đường sắt.
Ông Nguyễn Khánh Tùng Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đường sắt.

Quốc hội đã có Nghị quyết số 187/2025/QH15, yêu cầu lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng từ năm 2025, phấn đấu hoàn thành chậm nhất vào năm 2030. Tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng có chiều dài gần 39km, điểm đầu tại vị trí nối ray qua biên giới (Lào Cai), điểm cuối tại ga Lạch Huyện (Hải Phòng). Dự án thực hiện đầu tư mới toàn tuyến đường đơn, khổ 1.435mm; vận chuyển chung hành khách và hàng hóa; tốc độ thiết kế 160km/giờ đối với tuyến chính (đoạn từ ga Lào Cai mới đến ga Nam Hải Phòng), 120km/giờ đối với đoạn qua khu vực đầu mối thành phố Hà Nội, các đoạn tuyến còn lại tốc độ 80 km/giờ. Dự án được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án hơn 203.230 tỷ đồng.

Hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng có nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa lớn thứ 2 của cả nước, chỉ sau hành lang kinh tế bắc - nam phía đông. Hành lang này còn đóng vai trò chiến lược giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai” với Sáng kiến “Vành đai và Con đường”, được lãnh đạo hai Đảng, Nhà nước rất quan tâm thúc đẩy triển khai. Vì vậy, việc triển khai đầu tư dự án là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa chiến lược, đòi hỏi sự quyết tâm rất lớn để sớm khởi công và hoàn thành đưa vào khai thác.

Tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng hiện hữu khổ 1.000mm, khai thác đã lâu, hạ tầng xuống cấp, lạc hậu.
Tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng hiện hữu khổ 1.000mm, khai thác đã lâu, hạ tầng xuống cấp, lạc hậu.

PV: Dự án đặt ra mục tiêu khởi công vào cuối năm 2025, hết sức gấp gáp, Ban đã triển khai thực hiện các khâu chuẩn bị cần thiết như thế nào để có thể khởi công theo đúng chỉ đạo của Chính phủ?

Ông Nguyễn Khánh Tùng: Ban Quản lý dự án đường sắt xác định tiến độ này là thách thức rất lớn, cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cùng các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt bổ trợ để rút ngắn thời gian. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Xây dựng, Ban Quản lý dự án đường sắt đã thực hiện một số nhiệm vụ được Quốc hội chấp thuận cơ chế đặc thù, đặc biệt như: Tổ chức kiện toàn tổ chức bộ máy của Ban bảo đảm đủ năng lực để quản lý thực hiện dự án; dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về kế hoạch triển khai Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư dự án; làm việc, trao đổi với các cơ quan phía Trung Quốc nhằm đẩy nhanh tiến độ phê duyệt khoản hỗ trợ, lựa chọn tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi; áp dụng chính sách đặc thù được Quốc hội thông qua để lựa chọn nhà thầu lập thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở để thẩm định, phê duyệt làm cơ sở lựa chọn nhà thầu và tiến hành các thủ tục khởi công dự án,…

PV: Ông có thể nói rõ hơn về các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt được áp dụng để triển khai dự án? Các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt này có khác biệt gì so với dự án đường sắt tốc độ cao trên trục bắc-nam?

Ông Nguyễn Khánh Tùng: Tương tự như dự án đường sắt tốc độ cao trên trục bắc-nam, dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng có quy mô rất lớn, được áp dụng các công nghệ kỹ thuật mới, lần đầu tiên triển khai ở Việt Nam nên để thực hiện thành công và hoàn thành đúng theo tiến độ yêu cầu, cần thiết phải áp dụng các chính sách đặc thù, đặc biệt.

Trên cơ sở rà soát, Bộ Xây dựng đã đề xuất và được Quốc hội thông qua 18 cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt trong đó có 15/19 cơ chế chính sách đã được áp dụng cho dự án đường sắt tốc độ cao trên trục bắc-nam và bổ sung thêm 3 cơ chế, chính sách liên quan đến điều chỉnh các quy hoạch phù hợp với các nội dung của dự án, chính sách về việc cho phép triển khai đồng thời lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, Báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, hồ sơ mời thầu... và chính sách thực hiện chỉ định thầu các gói thầu của dự án. Việc Quốc hội chấp thuận các chính sách đặc thù, đặc biệt cho dự án là cơ sở để đẩy nhanh, rút ngắn thời gian chuẩn bị, thực hiện dự án.

Bộ Xây dựng đã đề xuất và được Quốc hội thông qua 18 cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt đối với dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
Bộ Xây dựng đã đề xuất và được Quốc hội thông qua 18 cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt đối với dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

PV: Có một số ý kiến nhận định, vận tải liên vận trên tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng chưa hẳn đã đem lại hiệu quả cao đối với Việt Nam, chủ yếu nhằm phục vụ vận chuyển hàng của Trung Quốc quá cảnh Việt Nam xuất, nhập khẩu qua cảng Hải Phòng. Ông đánh giá như thế nào về nhận định này?

Ông Nguyễn Khánh Tùng: Như tôi vừa nói trên, hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng có nhu cầu vận tải hành khách, hàng hóa lớn thứ 2 của cả nước chỉ sau hành lang kinh tế bắc-nam. Việc xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng trước hết để phục vụ nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa trong nước trên hành lang kinh tế này, cùng với đó là phục vụ nhu cầu vận tải hành khách, hàng hóa xuất nhập khẩu và hàng hóa quá cảnh, như vậy mới phát huy được hết hiệu quả đầu tư của dự án.

Bốc xếp hàng hóa tại ga đường sắt.
Bốc xếp hàng hóa tại ga đường sắt.

PV: Việc quy hoạch hướng tuyến, nhà ga đã được các đơn vị chức năng tính toán đến nhu cầu và dự báo trong tương lai về hàng hóa hay chưa?

Ông Nguyễn Khánh Tùng: Công trình ga được bố trí theo nguyên tắc: phù hợp với các quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đáp ứng nhu cầu vận tải; thuận lợi về điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn; đáp ứng các yêu cầu về tổ chức vận tải và năng lực thông qua; các trạm tác nghiệp kỹ thuật (ga kỹ thuật) được bố trí theo yêu cầu về năng lực thông qua.

Quá trình lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, tư vấn đã khảo sát, sử dụng mô hình dự báo nhu cầu vận tải tiên tiến để tính toán nhu cầu vận tải cho tuyến đường sắt này, trong đó cũng tính toán đến nhu cầu vận tải hàng hóa quá cảnh và hàng hóa xuất nhập khẩu (gọi chung là hàng liên vận). Với kết quả dự báo nhu cầu vận tải, toàn tuyến dự kiến bố trí 18 ga (3 ga lập tàu, 15 ga hỗn hợp). Ngoài ra, để thực hiện các tác nghiệp kỹ thuật phục vụ chạy tàu, dự kiến bố trí 13 trạm tác nghiệp kỹ thuật. Như vậy, việc xác định vị trí và quy mô nhà ga, hướng tuyến của dự án đã tính toán đầy đủ.

PV: Theo đánh giá của ông, quá trình triển khai dự án, thách thức lớn nhất là gì?

Ông Nguyễn Khánh Tùng: Dự án có quy mô lớn, công nghệ kỹ thuật mới, lần đầu tiên triển khai tại Việt Nam, trong khi năng lực, kinh nghiệm của tổ chức, cá nhân trong nước đối với việc thực hiện dự án còn rất hạn chế. Kinh nghiệm thế giới cho thấy thời gian chuẩn bị các dự án tương tự khoảng 36 tháng đến 42 tháng, do đó đạt được tiến độ mục tiêu dự án là thách thức rất lớn, cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để rút ngắn thời gian. Việc rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án có thể dẫn đến hệ quả không kiểm soát, đánh giá được hết các rủi ro về mặt kinh tế, kỹ thuật trong quá trình thực hiện.

Đồng thời, các thay đổi về chế độ chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư, đơn giá, định mức, chi phí xây dựng sẽ dẫn đến những khó khăn trong quá trình quản lý và có thể phát sinh các tranh chấp về hợp đồng với các nhà thầu. Tuy nhiên, chúng tôi đã tính toán và lường trước các tình huống phát sinh để triển khai tổ chức thực hiện dự án bảo đảm đúng tiến độ và đạt chất lượng tốt nhất.

Hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng có nhu cầu vận tải hành khách, hàng hóa lớn thứ 2 của cả nước chỉ sau hành lang kinh tế bắc-nam.
Hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng có nhu cầu vận tải hành khách, hàng hóa lớn thứ 2 của cả nước chỉ sau hành lang kinh tế bắc-nam.

PV: Dự án này có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của vùng Tây Bắc cũng như cả nước?

Ông Nguyễn Khánh Tùng: Tuyến đường sắt hiện hữu Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng kết nối với Trung Quốc đã có lịch sử hơn 100 năm, kết cấu hạ tầng lạc hậu, chất lượng dịch vụ thấp, không đáp ứng được nhu cầu vận tải và phát triển kinh tế của khu vực cũng như cả nước. Việc triển khai đầu tư xây dựng mới tuyến đường sắt tốc độ cao sẽ góp phần quan trọng xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kết nối giao thương kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN với vùng Tây Nam (Trung Quốc).

Dự án được đánh giá sẽ mang lại những lợi ích to lớn và tạo ra cơ hội phát triển kinh tế-xã hội vượt bậc, đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách trong bối cảnh giao thương Việt Nam - Trung Quốc ngày càng phát triển; tạo động lực mạnh mẽ phát triển kinh tế-xã hội của vùng Tây Bắc cũng như cả nước.

Ngoài ra, đầu tư đường sắt mang lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội khác như tạo không gian phát triển về đô thị, công nghiệp, dịch vụ, du lịch; tái cơ cấu các phương thức vận tải; giảm thiểu tai nạn giao thông; tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, đây là phương thức vận tải xanh, là giải pháp hữu hiệu để thực hiện các cam kết của Việt Nam bảo đảm mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

nhandan.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Lào Cai tăng cường quản lý quy hoạch đô thị, nông thôn và trật tự xây dựng

Lào Cai tăng cường quản lý quy hoạch đô thị, nông thôn và trật tự xây dựng

Ngày 05/5, UBND tỉnh Lào Cai ban hành Chỉ thị số 09/CT-UBND về việc tăng cường công tác quản lý quy hoạch đô thị, nông thôn và trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động quy hoạch, xây dựng, đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Bảo Ái phát huy “ba trụ cột” thúc đẩy kinh tế nông thôn

Bảo Ái phát huy “ba trụ cột” thúc đẩy kinh tế nông thôn

Sau sáp nhập, xã Bảo Ái đang từng bước khai thác hiệu quả lợi thế đất đai, rừng và mặt nước để cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng bền vững. Việc phát huy đồng thời "ba trụ cột" gồm: nông nghiệp hàng hóa, lâm nghiệp kinh tế và thủy sản không chỉ mở ra hướng đi phù hợp mà còn tạo động lực nâng cao thu nhập cho người dân.

Lào Cai: Hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp Trấn Yên cơ bản hoàn thành

Lào Cai: Hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp Trấn Yên cơ bản hoàn thành

Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Trấn Yên (giai đoạn 1) đang đạt những kết quả tích cực, với hạ tầng kỹ thuật cơ bản hoàn thành và công tác giải phóng mặt bằng đạt tiến độ đề ra. Đó là thông tin được thông báo tại Hội nghị đánh giá tiến độ thực hiện Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Trấn Yên, giai đoạn 1 do UBND xã Âu Lâu tổ chức chiều 05/5.

Lào Cai phấn đấu đến năm 2030, tổng giá trị ngành hàng dược liệu sau chế biến đạt trên 2.000 tỷ đồng

Lào Cai phấn đấu đến năm 2030, tổng giá trị ngành hàng dược liệu sau chế biến đạt trên 2.000 tỷ đồng

Đảng ủy UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Kế hoạch số 64 về việc phát triển dược liệu chiến lược tỉnh Lào Cai giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2050 nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TU ngày 03/02/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển dược liệu chiến lược tỉnh Lào Cai.

Khởi nghiệp từ lợi thế bản địa ở Lâm Thượng

Khởi nghiệp từ lợi thế bản địa ở Lâm Thượng

Phát huy lợi thế nông nghiệp đặc sản, cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa của 18 dân tộc cùng chung sống, xã Lâm Thượng đang từng bước khơi dậy phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Từ chính tiềm năng bản địa, nhiều mô hình kinh tế mới đã hình thành, mở hướng nâng cao thu nhập, tạo sinh kế bền vững và lan tỏa tinh thần dám nghĩ, dám làm ở xã vùng cao còn nhiều khó khăn.

Tăng cường nuôi dưỡng nguồn thu nội địa, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững

Tăng cường nuôi dưỡng nguồn thu nội địa, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững

Ngay từ đầu năm 2026, ngành Thuế tỉnh Lào Cai đã phát huy vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước, chủ động bám sát diễn biến kinh tế, linh hoạt trong điều hành và kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương. Tuy nhiên, những biến động của thị trường, chi phí đầu vào tăng và sức cầu chưa phục hồi hoàn toàn vẫn tác động đến hoạt động sản xuất - kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách trên địa bàn.

Lào Cai trong nhóm 16 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước

Lào Cai trong nhóm 16 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước

Theo Bộ Tài chính, tính đến ngày 30/4, giải ngân vốn đầu tư công là 144.282,9 tỷ đồng, đạt 14,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; trong đó, có 27 bộ, cơ quan trung ương, 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp, dưới bình quân chung cả nước. Lào Cai trong nhóm 8 bộ, cơ quan và 16 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước.

Giữ rừng giáp ranh: Chủ động “phòng” để hạn chế “chống”

Giữ rừng giáp ranh: Chủ động “phòng” để hạn chế “chống”

Khi đồng bào vùng cao bước vào cao điểm sản xuất, những cánh rừng đầu nguồn cũng đứng trước áp lực gia tăng rõ rệt cả từ tự nhiên lẫn con người. Ở các khu vực giáp ranh, nơi địa hình chia cắt, ranh giới hành chính đan xen, nguy cơ xâm hại rừng không chỉ đến từ một phía mà thường là hệ quả cộng hưởng của tập quán canh tác, nhu cầu sinh kế và những “khoảng trống” trong quản lý.

Tháo gỡ nút thắt, đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn điện trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Tháo gỡ nút thắt, đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn điện trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Chiều 04/5, tại trụ sở UBND tỉnh, đồng chí Nguyễn Tuấn Anh - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì hội nghị đánh giá tình hình triển khai các dự án nguồn điện theo Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII và Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lào Cai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thu “trái ngọt” từ cần cù lao động

Thu “trái ngọt” từ cần cù lao động

Từ chỗ sản xuất phụ thuộc nhiều vào cây lúa truyền thống, bà Hoàng Thị Inh - tổ dân phố Năm Hăn Thượng, phường Trung Tâm đã mạnh dạn chuyển đổi đất lúa sang trồng dưa hấu và thu “trái ngọt” từ chăm chỉ, cần cù lao động trên ruộng đồng.

fb yt zl tw