LCĐT - Nơi cuối nẻo dãy Hoàng Liên - Văn Bàn, có những bản, làng người Dao đỏ cheo leo bên sườn núi. Ở đó, cùng với các nghi lễ độc đáo mang bản sắc văn hóa, một số gia đình hiện đang“sở hữu” bộ tranh thờ cổ, quý giá cùng những “bí mật” chưa thể giải mã...
Men dòng Nậm Chăn, ngược dốc núi qua cung đường như con rắn bò ngang triền núi, rồi tiếp tục hành trình dưới những cánh rừng nguyên sinh, lội qua dòng suối lạnh cóng, chúng tôi mới đến được bản Nậm Miện, xã Thẳm Dương (Văn Bàn) nơi đang treo bộ tranh thiêng của người Dao đỏ. Sau khi hoàn thành màn cúng lễ dâng đèn trong Lễ Cấp sắc cho chàng trai trong bản, thầy mo Bàn Phúc Minh, năm nay đã 70 tuổi dừng tay tiếp chuyện chúng tôi. Ông tâm sự: Chỉ là bộ tranh truyền thống của người Dao đỏ dùng để treo trong những nghi lễ quan trọng của gia đình, dòng họ, cộng đồng… nhưng cho đến giờ còn nhiều bí mật chưa thể giải mã. Không phải ai cũng được thờ, không phải có thể mở tranh xem bất cứ ngày giờ nào cũng được, phải khi “nhà có việc” mới treo tranh.
Bộ tranh thờ của người Dao đỏ chỉ được treo khi cúng lễ.
Cũng vì lý do ấy, hôm nay có gia đình trong bản làm lễ cấp sắc, chúng tôi mới được tận mắt chiêm ngưỡng bộ tranh đồ sộ đó. Trong căn nhà gỗ truyền thống của người Dao đỏ, bộ tranh được treo trang trọng giữa gian thờ chính, đủ 18 bức, mỗi bức có khổ rộng khoảng 0,4 m, dài 1,2 m. Chủ nhân của bộ tranh thờ này là ông Triệu Văn Phây ở thôn Nậm Con (xã Thẳm Dương)… Đây là phiên bản của bộ tranh cổ, dù “tuổi đời” mới trên 30 năm, nhưng đã theo chân thầy Phây đi cúng lễ khắp làng trên, bản dưới ở vùng đất Văn Bàn không biết bao nhiêu lần.
Bộ tranh này bằng giấy, chỉ có ý nghĩa khi được gia chủ “khai quang”, có nghĩa là, trước khi thờ bộ tranh này, phải cúng lễ, bộ tranh phải có chủ, theo quan niệm của người Dao đỏ là phải có “ma giữ nó”. Ông Triệu Văn Phây kể lại huyền sử bộ tranh thờ mà mình đang sở hữu: Khi gia đình làm ăn thất bát, mất mùa liên miên, nuôi gà, gà không ở, nuôi lợn, lợn không lớn. Người già trong bản bảo, thế là tổ tiên có “nhã ý” báo với gia đình cần phải có bộ tranh thiêng để thờ. Lúc ấy gia đình mời thầy cúng về xin “khất” trong vòng 2 - 3 năm, khi thấy trong nhà làm ăn yên ổn, thì tìm đặt mua tranh “mộc” về thờ.
Trước khi thờ tranh, gia chủ phải mất 1 - 2 năm chuẩn bị đủ gà, lợn và tiền để làm lễ khai quang. Đây là nghi lễ quan trọng, mang đậm nét văn hóa của người Dao đỏ, được tổ chức khá linh đình trước sự chứng kiến của anh em họ tộc và người dân trong bản. Sau khi xem được ngày tốt, gia đình phải chọn được thầy mo có đẳng cấp cao, theo người Dao đỏ là phải chọn được thầy “to”, tức là thầy mo ấy phải qua lễ cấp sắc “7 đèn”, hoặc “9 đèn”… nếu được thầy “12 đèn” càng tốt. Trong quan niệm của người Dao đỏ, số lượng đèn dâng trong lễ cấp sắc để quy định “đẳng cấp” của thầy mo!
Lễ khai quang tranh thờ thường được tổ chức vào tháng Chạp, gần Tết Nguyên đán, khi đã thu hoạch xong vụ mùa… Người Dao đỏ rất kỵ làm vào những tháng khác trong năm, nhất là “mùa con sâu nở, mùa con ngóe kêu” là không được làm lễ khai quang tranh thờ. Lễ khai quang tranh thờ phải có 4 thầy cúng, trong đó có 1 thầy cúng chính. Khi cúng, treo hết tranh mộc lên tường nhà. Trong lễ cúng phải mổ 3 con lợn, nấu nhiều rượu ngon và làm sẵn giấy bản. Lại nói thêm về giấy bản để cúng tranh thờ, người ta dùng thanh gỗ vuông, bốn mặt có in hoa văn biểu tượng của hình 4 con vật: Ngựa, rồng, hổ, chim hạc. Khi cúng lễ tranh thờ, dùng 3 mặt của tranh gỗ biểu trưng cho thần đất (hổ), thần trời (chim hạc) và thần long vương, còn gọi là thần nước (rồng) in lên giấy bản… tạo ra tranh giấy riêng chỉ để cúng lễ!
Ông Bàn Phúc Minh cho biết thêm: Sau khi khai quang xong, bộ tranh thờ được cuộn lại đặt trên ban thờ của gia chủ và không được mở ra. Trừ khi gia đình đó biết làm “thầy”, nếu được mời đến nhà khác cúng lễ như thầy Triệu Văn Phây, thì mới được mang đến nhà có việc treo tranh trong nghi lễ cúng. Chứ bình thường, bất luận là lý do gì cũng không được mở bộ tranh ra xem, bởi thế, nên nhiều nhà sau khi khai quang bộ tranh thờ cứ “ngủ im” trên bàn thờ hàng chục năm trời không mở ra là chuyện thường. Điều kiêng kỵ nữa là khi có bộ tranh thờ trong nhà, nếu mình đến chỗ nào không sạch sẽ cũng không được đến gần bộ tranh thờ. Phụ nữ trong nhà khi sinh con cũng không được đến gần bộ tranh thờ. Và đặc biệt, là phụ nữ không được sờ vào bộ tranh thờ…
Rời Nậm Miện, chúng tôi hành trình lên bản Nậm Cần (xã Dần Thàng), nơi cũng có bộ tranh thờ mang đầy màu sắc huyền bí. Theo ông Trưởng thôn Triệu Xuân Quý thì cả bản Nậm Cần chỉ có một bộ tranh thờ rất linh thiêng. Bộ tranh cổ này còn có tên gọi là bộ tranh “ma” do tổ tiên để lại, phục vụ trong lễ cấp sắc, lễ tang. Không phải là ai cũng có thể thờ được, vì nó như “báu vật” do tổ tiên truyền lại cho con cháu. Theo tục lệ của người Dao đỏ, bộ tranh “ma” này gồm có 18 tấm tranh. Bộ tranh cổ này rất giá trị, theo lời người già trong bản thì tranh được vẽ bằng tay, trong đó dùng “bụi” vàng, bạc để thổi vào tranh. Do vậy, mỗi bộ tranh có giá vài trăm triệu đồng; càng “cổ” tranh càng có giá trị. Tuy vậy, cũng không ai dám bán tranh thờ, mà cũng không ai dám sở hữu nó, vì nếu không được phép thờ, mà cứ thờ tranh thì sẽ “vận” vào người và gia đình những điều không may mắn, những điều xúi quẩy... Cũng có lẽ vì thế mà người ta gọi tranh thờ là “tranh ma”!?
Giờ đây, chưa xác định được bộ tranh cổ nhất của Văn Bàn là của gia đình nào, bởi những quy định nghiêm ngặt của nó. Cũng vì một phần nhiều năm trước đây, do tranh có giá trị như “cổ vật”, nên nhiều gia đình người Dao đỏ ở Văn Bàn có tranh thờ đã bị đánh cắp bán ra nước ngoài… Chẳng biết những bộ tranh thờ có “thần giữ tranh” thật hay không, nhưng đến tận bây giờ, những bộ tranh đầy màu sắc vẫn được người Dao đỏ gìn giữ, bảo tồn, trở thành niềm tin trong tín ngưỡng về văn hóa tâm linh của dân tộc mình.
Chúng tôi rời Văn Bàn khi màn sương chiều phủ trắng đường về, ánh lửa hồng từ các ngôi nhà hắt sáng xuống thung lũng dưới chân núi Gia Lan. Mùi thơm của nếp mới Thẳm Dương quyện trong mùi khói bếp vương khắp không gian, dù thoảng qua cũng khó lòng mà không dừng lại hít hà một hồi lâu. Trong những nếp nhà gỗ truyền thống vẫn có những bộ tranh thờ được cất giữ như một báu vật linh thiêng của dòng tộc, của cộng đồng mình.