GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (MỒNG 10 THÁNG BA NĂM ẤT TỴ 2025)

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - di sản tinh thần vô giá của dân tộc

Những câu chuyện về Hùng Vương và thời đại khai sơn phá thạch, mở mang bờ cõi, khởi dựng cơ nghiệp nước Việt ta được lưu lại thành văn kể từ triều nhà Trần (1226-1400) trong các sách như: "Đại Việt sử ký", "Việt Nam thế chí", "Khâm định Việt sử Thông giám cương mục", "Lĩnh Nam chích quái", "Việt điện u linh"...

Trước đó, những câu chuyện về tổ tiên, nòi giống của người Việt đã lưu truyền trong dân gian, truyền khẩu từ đời này qua đời khác, giải thích về nguồn cội, động viên về tinh thần cộng đồng, cổ vũ niềm tự hào của dân tộc. Như Hàn lâm viện học sĩ Hồ Tông Thốc-tác giả cuốn “Việt Nam thế chí” (1472) viết trong lời tựa của sách, những gì mà ông ghi chép trong sách chỉ là “những chuyện góp nhặt được” từ những “tiếng vang chuyện đồn, trích lấy đầu đuôi để cho biết rõ về phả ký từng đời mà thôi, còn những sự tích kỳ quái, lờ mờ khó xét, tạm giữ đó để chờ các bậc quân tử sau này”, song nếu người đọc sách biết “lưu tâm nhận kỹ, cố sức suy nghiệm thì sẽ rõ ngọc đá; thấy được tiếng vang hình bóng của lịch sử”. Lời người xưa cũng chính là nhận thức hợp lý về một vấn đề có tính quy luật rằng, mọi thứ thần thoại, huyền tích nói cho cùng đều có nguồn gốc từ thực tế, đều xuất phát từ những con người, sự việc đã tồn tại trong cuộc sống hiện thực.

Năm 1470, thời đại Hùng Vương được chính thức xác nhận trong chính sử Việt Nam. Đó là khi Vua Lê Thánh Tông giao cho Hàn lâm viện Trực học sĩ Nguyễn Cố soạn “Ngọc phả cổ truyền về 18 đời Thánh vương triều Hùng” (Ngọc phả Hùng Vương). Kể từ đây, tông phả Hùng Vương cũng được xác lập ở cấp độ nhà nước và Hùng Vương chính thức được công nhận là Tổ của dân tộc hay còn gọi là Quốc Tổ. Tại bộ "Đại Việt sử ký toàn thư" của Ngô Sỹ Liên (1479), lai lịch dòng dõi, tôn hiệu của thời đại Hùng Vương được trình bày trân trọng, đầy đủ trong Kỷ Hồng Bàng thị-kỷ nguyên mở đầu cho lịch sử dân tộc Việt Nam. Các bộ sử của triều nhà Lê và các triều đại về sau như: "Việt sử thông giám" của Vũ Quỳnh (thế kỷ XVI), "Đại Việt sử ký tục biên" (thế kỷ XVIII), "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú (thế kỷ XIX), "Khâm định Việt sử Thông giám cương mục" của Quốc sử quán triều Nguyễn (thế kỷ XIX)... đều coi thời đại Hùng Vương là giai đoạn khai nguyên cho lịch sử dân tộc Việt Nam.

Con Lạc, cháu Hồng giương cao cờ hội thể hiện sức sống bền bỉ của dòng giống Tiên Rồng. Ảnh: HỮU TRƯỞNG

Con Lạc, cháu Hồng giương cao cờ hội thể hiện sức sống bền bỉ của dòng giống Tiên Rồng. Ảnh: HỮU TRƯỞNG

Tục lệ thờ cúng Hùng Vương đã có từ xa xưa trong dân gian Việt Nam. Một số tài liệu lịch sử cho rằng, tục lệ thờ cúng Hùng Vương có từ cách đây hơn 2.000 năm, khởi đầu từ sự kiện Thục Phán-An Dương Vương sau khi được Hùng Vương thứ 18 nhường ngôi, đã lên núi Nghĩa Lĩnh dựng cột đá giữa đỉnh núi, ngẩng mặt lên trời mà thề rằng: “Nguyện có trời cao lồng lộng, đất rộng mênh mông chứng giám không bao giờ sai, nước Nam sẽ mãi mãi trường tồn, lăng miếu Tổ Hùng Vương sẽ còn mãi mãi. Xin nguyện đời đời trông nom lăng miếu và gìn giữ giang sơn mà Hùng Vương trao lại; nếu thất hứa, sai thề sẽ bị búa giăng, rìu gió trừng phạt". Đến thời nhà Nguyễn, triều đình đặc biệt quan tâm đến việc thờ cúng Hùng Vương, cho tôn tạo các đền miếu trên núi Nghĩa Lĩnh, lấy mồng 10 tháng Ba âm lịch hằng năm làm ngày giỗ Tổ Hùng Vương, san định nghi thức lễ tế Quốc Tổ ở Đền Hùng (Phú Thọ), quy định về nguồn thu thuế ở địa phương để cấp cho việc trông nom, hương khói và tổ chức lễ giỗ Quốc Tổ hằng năm. Triều đình còn rước bài vị Hùng Vương vào thờ trong miếu Lịch đại đế vương ở kinh thành Huế.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, dù trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, phức tạp, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời vẫn dành sự quan tâm đặc biệt cho ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương. Ngày 18-2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 22C NV/CC quy định mồng 10 tháng Ba âm lịch là ngày kỷ niệm lịch sử Hùng Vương. Trong ngày đó, các công sở trong toàn quốc sẽ đóng cửa, cử nhân viên phụ trách công việc thường trực, viên chức công nhật tòng sự tại các công sở có quyền hưởng lương trong những ngày nghỉ lễ chính thức. Lễ giỗ Quốc Tổ Hùng Vương năm 1946 được tổ chức trọng thể vào mồng 10 tháng Ba âm lịch tại Đền Hùng, Phú Thọ. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, Trưởng ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Bắc Bộ Nguyễn Xiển, thay mặt Nhà nước lên Đền Hùng để cáo yết Quốc Tổ. Từ đó, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm, ngày càng lan tỏa ý nghĩa, được nhân dân cả nước trân trọng, hưởng ứng. Ngày giỗ Tổ mồng 10 tháng Ba âm lịch hằng năm đã trở thành ngày lễ chính thức của Nhà nước; nghi lễ tế Tổ Hùng vương trong ngày lễ của những năm chẵn do Nhà nước chủ trì, những năm khác do tỉnh Phú Thọ thay mặt cả nước chủ trì tổ chức. Cùng với hệ thống lăng, miếu, đền, chùa thờ tự Hùng Vương trên núi Nghĩa Lĩnh, nhiều địa phương trong cả nước đều có những công trình xây dựng thờ vọng Quốc Tổ và những nhân vật của thời đại Hùng Vương là những anh hùng, những người có công trạng với nước, với dân. Mồng 10 tháng Ba âm lịch hằng năm, khi lễ tế Quốc Tổ được cử hành trọng thể, trang nghiêm ở Đền Hùng thì khắp các địa phương trong cả nước cũng tổ chức lễ tế hoặc những hình thức kỷ niệm long trọng khác; trên khắp cõi Việt Nam, không ở đâu không thơm ngát khói nhang tưởng nhớ về tổ tiên, cội nguồn dân tộc. Trong ngày này, nhiều cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng hướng về quê hương, tổ chức ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương với những hình thức rất phong phú.

Giao lưu văn nghệ tại Lễ hội Đền Hùng năm Ất Tỵ 2025. Ảnh: TẠ TOÀN

Giao lưu văn nghệ tại Lễ hội Đền Hùng năm Ất Tỵ 2025. Ảnh: TẠ TOÀN

Ngày 6/12/2012, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Từ đây, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ là di sản tinh thần vô giá của dân tộc ta mà đã trở thành một giá trị tinh thần của chung nhân loại, tô đậm thêm bản sắc của dân tộc, niềm tự hào của người dân Việt Nam, góp phần lan tỏa văn hóa Việt Nam trên phạm vi quốc tế.

Trải qua lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương gắn bó mật thiết với tục lệ thờ cúng tổ tiên, trở thành giá trị tinh thần vô cùng quý báu của dân tộc ta. Từ trong gian khổ, khó khăn của cuộc đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, chống kẻ thù xâm lược luôn rình rập xung quanh, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được nhân dân hun đúc, làm cho ngày càng linh thiêng hơn, đẹp đẽ hơn, phong phú hơn. Đó không chỉ là biểu hiện của lòng biết ơn đối với tổ tiên, về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” mà còn là sợi dây tinh thần kết nối giữa các thế hệ, để cho Tổ tiên luôn “sống” cùng hiện tại với những giá trị đã tích lũy qua thời gian, được trao truyền qua các thế hệ và con cháu mai sau không bao giờ xa rời những truyền thống tốt đẹp, có trách nhiệm giữ gìn những thành tựu, di sản của các thế hệ đi trước tạo lập nên và để lại. Đó không chỉ là sự thiêng hóa những hình tượng lịch sử để răn dạy con cháu, giáo dục cộng đồng mà đã trở thành biểu tượng của sự đoàn kết dân tộc, sức mạnh tinh thần quan trọng góp phần cố kết dân tộc, tạo nên sức mạnh, vượt qua những khó khăn, gian khổ trong lao động xây dựng cuộc sống, những thử thách, hiểm nghèo trong đấu tranh chống giặc giã, bảo vệ cõi bờ. Đó không chỉ là một giá trị có ý nghĩa gắn kết trong cộng đồng mà còn là biểu hiện của một bài học sâu sắc, một chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam về lòng biết ơn đối với tổ tiên, đối với các thế hệ đi trước, sự ý thức đầy đủ rằng “Con người có tổ, có tông/ Như cây có cội, như sông có nguồn”, “Cây có gốc mới nảy cành xanh ngọn/ Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu”.

Dân tộc Việt Nam ngày nay thật hạnh phúc bởi được cha ông trao truyền một di sản tinh thần vô giá, đó là tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, thờ cúng vị Thủy Tổ của cả cộng đồng dân tộc. Không ở đâu trên trái đất này có một dân tộc như chúng ta, tin tưởng và tôn vinh một vị Thủy Tổ chung, gần gũi yêu thương như người cha, người mẹ trong gia đình. Không có một dân tộc nào như dân tộc ta, mọi người gọi nhau bằng “đồng bào” - người cùng sinh ra từ một bọc, nghĩa là người có chung mẹ, chung cha, chung nguồn gốc giống nòi. Chúng ta biết ơn Quốc Tổ Hùng Vương và các thế hệ cha ông đã tạo dựng, hun đúc và trao truyền cho hạnh phúc ấy, may mắn ấy. Nhưng chỉ biết ơn là chưa đủ, quan trọng và cần thiết hơn là chúng ta phải tiếp tục phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương để làm giàu có hơn bản sắc, phong phú hơn ý nghĩa của nền văn hóa Việt Nam.

Đất nước ta đang trước ngưỡng cửa của kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Với ý nghĩa văn hóa là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển, việc phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương sẽ góp phần không nhỏ vào nỗ lực chung của cả nước nhằm thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2045 - kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - trở thành nước phát triển, thu nhập cao, mang lại hạnh phúc nhiều hơn cho nhân dân.

Theo Báo Quân đội nhân dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Câu lạc bộ Trống Lạc Hồng - điểm hẹn văn hóa của người yêu nghệ thuật ở phường Sa Pa

Câu lạc bộ Trống Lạc Hồng - điểm hẹn văn hóa của người yêu nghệ thuật ở phường Sa Pa

Giữa nhịp sống hiện đại, Câu lạc bộ Trống Lạc Hồng ở phường Sa Pa đang trở thành điểm hẹn văn hóa gắn kết cộng đồng. Không chỉ là nơi tập luyện văn nghệ, câu lạc bộ đang trở thành điểm kết nối tinh thần của nhiều người dân địa phương, đặc biệt là người trung và cao tuổi. Những buổi sinh hoạt đều đặn với tiếng trống rộn ràng, điệu múa sôi động không chỉ tạo sân chơi bổ ích mà còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa, lan tỏa tinh thần đoàn kết trong cộng đồng dân cư.

Khi lời thơ cất thành giai điệu

Khi lời thơ cất thành giai điệu

Trong đời sống âm nhạc Việt Nam, có nhiều ca khúc quen thuộc được khơi nguồn từ thơ ca. Những vần thơ khi cất lên thành giai điệu trở nên gần gũi và giàu cảm xúc hơn với người nghe. Tại Lào Cai, nhiều tác phẩm của tác giả Nguyễn Văn Hoàn đã được các nhạc sĩ phổ nhạc, mang sức sống mới cho thơ ca và lan tỏa hình ảnh quê hương, con người vùng cao qua âm nhạc.

Tạo sức sống cho văn hóa truyền thống

Tạo sức sống cho văn hóa truyền thống

Sớm cụ thể hóa bằng nhiều hoạt động thiết thực, trong đó mục tiêu lấy bảo tồn di sản làm nền tảng, lấy văn hóa làm nội lực để phát triển, bản sắc văn hóa được nuôi dưỡng từ chính sự tự giác và lòng tự hào của mỗi người dân Mường Lai.

Giữ gìn di sản từ những cổ vật xưa

Giữ gìn di sản từ những cổ vật xưa

Trong dòng chảy của đời sống xã hội hiện đại, có những di sản văn hóa quý giá của lịch sử dân tộc dần bị mai một rồi mất đi theo năm tháng, chỉ còn trong những câu chuyện kể. Vậy nhưng, nơi mảnh đất biên cương Lào Cai vẫn có những người dù không phải là nhân viên bảo tàng hay chuyên viên ngành văn hóa, nhưng tâm huyết với công việc sưu tầm, gìn giữ những hiện vật nghìn năm tuổi để thế hệ sau hiểu hơn về lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Giữ hồn trà cổ

Giữ hồn trà cổ

Ở nơi cao gần 1.400 m so với mực nước biển, cây chè không chỉ là sinh kế, mà còn là ký ức, là niềm tự hào, là “hồn cốt” của người Mông trên đỉnh Suối Giàng (xã Văn Chấn) từ bao đời. Cây chè đang được gìn giữ theo cách rất riêng, bắt đầu từ giáo dục bài bản, giúp thế hệ trẻ nơi đây vun đắp tình yêu, niềm tự hào, sớm hình thành ý thức trân quý và gìn giữ di sản mà cha ông đã trao truyền.

Lặng thầm giữ gìn sắc màu văn hoá

Lặng thầm giữ gìn sắc màu văn hoá

Giữa nhịp sống hiện đại, ở thôn Kiên Lao, xã Quy Mông có nghệ nhân Hà Thị Thanh Tịnh lặng lẽ gìn giữ làn điệu dân ca, điệu múa truyền thống của dân tộc mình bằng tất cả đam mê và trách nhiệm. 

Giáo dục văn hóa địa phương cho thế hệ trẻ

Giáo dục văn hóa địa phương cho thế hệ trẻ

Trong kỷ nguyên số, sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của các yếu tố gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống, nhất là đối với người trẻ. Do vậy, cấp ủy, chính quyền các địa phương trong tỉnh đóng vai trò là “lá chắn” bảo vệ bản sắc, xây dựng sức đề kháng văn hóa cho thanh niên.

Khi văn hóa trở thành tài nguyên du lịch

Khi văn hóa trở thành tài nguyên du lịch

Trong xu thế phát triển du lịch hiện nay, nhiều địa phương không còn dừng ở việc “khoe” cảnh quan thiên nhiên, mà đã chuyển sang gìn giữ, khai thác chiều sâu giá trị văn hóa. Tại Tú Lệ, hướng đi này đang được lựa chọn một cách rõ ràng - coi văn hóa là tài nguyên cốt lõi, là nền tảng để phát triển du lịch gắn với sinh kế lâu dài.

Nghĩa Đô - miền quê đáng sống

Nghĩa Đô - miền quê đáng sống

Phát triển du lịch cộng đồng gắn với nông nghiệp bền vững, giữ vững an ninh trật tự, xây dựng địa bàn không ma túy - đó là cách mà xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai đang kiên trì thực hiện, từng bước kiến tạo một miền quê đáng sống.

Mang bản sắc xuống phố bằng tư duy kinh tế

Mang bản sắc xuống phố bằng tư duy kinh tế

Năm 2025, tốt nghiệp đại học loại Giỏi nhưng không chọn con đường ổn định nơi phố thị - Giàng Thị Gấm, dân tộc Mông (23 tuổi) sinh ra và lớn lên ở thôn Ngã Ba, xã Si Ma Cai đã trở về quê hương khởi nghiệp với việc mở cơ sở Thiết kế trang phục dân tộc Mông cách tân - Mongi tại thôn Sản Sín Pao, xã Sín Chéng.

Lễ hội quả Còn Nghĩa Đô 2026: Tôn vinh bản sắc dân tộc Tày

Lễ hội quả Còn Nghĩa Đô 2026: Tôn vinh bản sắc dân tộc Tày

Vừa qua, tại thôn Mường Kem, UBND xã Nghĩa Đô tổ chức Lễ hội quả còn năm 2026. Sự kiện nằm trong chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026) và 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

fb yt zl tw