Quy định tính thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 13/2023/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 49/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 12/2015/NĐ-CP, Nghị định số 100/2016/NĐ-CP và Nghị định số 146/2017/NĐ-CP và sửa đổi bổ sung Thông tư số 80/2021/TT-BTC.

Các tòa chung cư cao tầng dọc theo Xa lộ Hà Nội, thành phố Thủ Đức.
Các tòa chung cư cao tầng dọc theo Xa lộ Hà Nội, thành phố Thủ Đức. 

Theo đó, Thông tư số 13 quy định chi tiết về giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng, đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, giá tính thuế giá trị gia tăng là giá chuyển nhượng bất động sản trừ giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng.

Trường hợp được Nhà nước giao đất để đầu tư cơ sở hạ tầng xây dựng nhà để bán, giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng bao gồm tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật về thu tiền sử dụng đất và tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng (nếu có).

Trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá đất trúng đấu giá.

Trường hợp thuê đất để xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là tiền thuê đất phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước và tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng (nếu có).

Tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng là số tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng theo phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, được trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp theo quy định pháp luật về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá đất tại thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không bao gồm giá trị cơ sở hạ tầng.

Cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào của cơ sở hạ tầng (nếu có). Trường hợp không xác định được giá đất tại thời điểm nhận chuyển nhượng thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại thời điểm ký hợp đồng nhận chuyển nhượng.

Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận chuyển nhượng bất động sản của các tổ chức, cá nhân đã xác định giá đất bao gồm cả giá trị cơ sở hạ tầng theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị định 209/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 12/2015/NĐ-CP) thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá đất tại thời điểm nhận chuyển nhượng không bao gồm cơ sở hạ tầng.

Trường hợp không tách được giá trị cơ sở hạ tầng tại thời điểm nhận chuyển nhượng thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại thời điểm ký hợp đồng nhận chuyển nhượng.

Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá ghi trong hợp đồng góp vốn. Trường hợp giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thấp hơn giá đất nhận góp vốn thì chỉ được trừ giá đất theo giá chuyển nhượng.

Trường hợp cơ sở kinh doanh bất động sản thực hiện theo hình thức xây dựng chuyển giao (BT) thanh toán bằng giá trị quyền sử dụng đất thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá tại thời điểm ký hợp đồng BT theo quy định của pháp luật; nếu tại thời điểm ký hợp đồng BT chưa xác định được giá thì giá đất được trừ là giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định để thanh toán công trình.

Trường hợp xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, chuyển nhượng hoặc cho thuê, giá tính thuế giá trị gia tăng là số tiền thu được theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng trừ giá đất được trừ tương ứng với tỷ lệ % số tiền thu được trên tổng giá trị hợp đồng.

Báo Tin tức

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Tổng điều tra kinh tế 2026: Gắn tiến độ với chất lượng thông tin

Tổng điều tra kinh tế 2026: Gắn tiến độ với chất lượng thông tin

Cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 có ý nghĩa chiến lược trong việc đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, làm cơ sở xây dựng chính sách phát triển cho tỉnh Lào Cai trong giai đoạn tới. Với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các giai đoạn của cuộc Tổng điều tra, tỉnh đang tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đảm bảo dữ liệu thu thập được đầy đủ, khách quan và chính xác.

Các HTX phối hợp livestream bán hàng trên các nền tảng mạng xã hội

Chợ tết trực tuyến đưa nông sản vùng cao đến mọi miền

Những ngày giáp tết, không khí mua sắm rộn ràng hơn trên không gian mạng, bởi các tổ hợp tác, hợp tác xã và người sản xuất đã biết livestream bán hàng, đem lại hiệu quả kinh tế rõ nét, góp phần đưa nông sản đặc sản, sản phẩm OCOP của tỉnh đến với những thị trường tiềm năng.

Quyết liệt, đồng bộ giảm nghèo bền vững

Quyết liệt, đồng bộ giảm nghèo bền vững

Những bản làng trù phú, những tuyến đường mới mở thênh thang, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện.... đã thể hiện rõ nét kết quả giảm nghèo tại Lào Cai, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị.

Siết chặt quản lý vật tư nông nghiệp để bảo vệ nền sản xuất bền vững

Siết chặt quản lý vật tư nông nghiệp để bảo vệ nền sản xuất bền vững

Trong lộ trình phát triển nông nghiệp hàng hóa, vật tư đầu vào được ví như “mạch máu”, quyết định năng suất và chất lượng nông sản. Trước yêu cầu bảo vệ sản xuất và quyền lợi của nông dân, các ngành chức năng của tỉnh Lào Cai đang tăng cường quản lý thị trường vật tư nông nghiệp, coi đây là nền tảng quan trọng cho phát triển nông nghiệp xanh và bền vững.

fb yt zl tw