Gây dựng lại vùng dâu
Trong căn nhà nuôi tằm ở thôn Việt Tiến, chị Lại Thị Hoa cẩn thận trải từng lớp lá dâu lên nong, chuẩn bị nguồn thức ăn cho đàn tằm đang bước vào giai đoạn ăn rỗi.
Đây là giai đoạn tằm tiêu thụ lượng lá lớn, nên người nuôi phải theo sát từng bữa ăn, giữ nhà tằm sạch, thoáng. Công việc cứ nối nhau cho đến khi tằm chín, lên né làm kén.
Hơn 0,5 ha dâu của gia đình chị Hoa trước đây chủ yếu trồng ngô, sắn, hiệu quả kinh tế thấp. Năm 2024, chị chuyển sang trồng dâu. Lứa đầu tiên thử nuôi 3 nong tằm, sau khoảng nửa tháng, trừ chi phí, gia đình chị thu được hơn 10 triệu đồng.
Hiệu quả bước đầu đã tạo động lực để người dân mở rộng mô hình. Từ một vài hộ trồng dâu, nuôi tằm ban đầu, diện tích dâu dần được mở rộng tại các thôn Việt Tiến, Già Thượng và Già Hạ. Đến nay, toàn xã có 17,8 ha dâu. Qua 7 lứa nuôi, sản lượng kén đạt hơn 5,5 tấn, mang lại giá trị trên 1 tỷ đồng.
Không chỉ mở rộng diện tích và nâng sản lượng, đầu ra cho sản phẩm cũng thuận lợi hơn.
Đáng chú ý, lứa đầu năm 2026, kén tằm tại Phúc Khánh được thu mua với giá 210.000 đồng/kg, cao hơn năm trước khoảng 20.000 - 30.000 đồng/kg; năng suất bình quân đạt 20 - 22 kg/vòng tằm.
Mức giá tương đối tốt, kết hợp với hình thức thu mua trực tiếp ngay tại địa phương, giúp các hộ giảm áp lực tự tìm thị trường.
Ông Nguyễn Quốc Huy - Giám đốc Hợp tác xã Nấm Tam Đảo cho biết, sau giai đoạn khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 và mưa lũ, người dân xã Phúc Khánh đã yên tâm hơn khi trở lại với nghề trồng dâu, nuôi tằm.
“Chúng tôi cam kết thu mua cho người dân theo giá thị trường, đồng thời cung cấp tằm giống bảo đảm chất lượng và tổ chức tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật để bà con yên tâm sản xuất” - ông Nguyễn Quốc Huy cho biết.
Việc hợp tác xã tham gia từ cung ứng giống, kỹ thuật đến tiêu thụ sản phẩm đang tạo mối liên kết bước đầu cho vùng sản xuất. Tuy nhiên, mục tiêu mở rộng diện tích từ gần 18 ha lên 60 ha cũng đặt ra yêu cầu lớn hơn về tổ chức sản xuất.
Khi diện tích và số hộ tham gia tiếp tục gia tăng, nhu cầu về giống, tập huấn kỹ thuật, cơ sở vật chất phục vụ nuôi tằm cũng như năng lực thu mua, tiêu thụ sản phẩm cần được tính toán phù hợp với quy mô phát triển.
Nhìn từ vùng dâu Trấn Yên
Để người dân có cái nhìn đầy đủ hơn về chuỗi sản xuất dâu tằm, từ vùng nguyên liệu, kỹ thuật nuôi đến thu mua, chế biến sản phẩm, xã Phúc Khánh đã phối hợp tổ chức cho một số hộ trồng dâu, nuôi tằm đi tìm hiểu thực tế tại xã Trấn Yên.
Chuyến đi cũng là dịp để các hộ trao đổi kinh nghiệm, tìm hiểu cách tổ chức sản xuất ở vùng dâu lớn, có thêm cơ sở khi quyết định đầu tư, gắn bó với nghề.
Theo chân các hộ dân Phúc Khánh, chúng tôi đi từ vườn dâu đến nhà nuôi tằm, rồi cơ sở chế biến.
Tại mỗi điểm, người dân tập trung tìm hiểu các vấn đề sát với sản xuất, như: lựa chọn giống, chăm sóc dâu, nuôi tằm con, kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, phòng bệnh và kỹ thuật cho tằm lên né.
Đến cơ sở chế biến, câu chuyện tiếp tục nối dài từ khâu thu mua kén đến xử lý nguyên liệu và ươm tơ.
Qua từng công đoạn, người dân có điều kiện hình dung cụ thể hơn cách vùng nguyên liệu được kết nối với hợp tác xã, tổ hợp tác và cơ sở chế biến.
Xã Trấn Yên hiện có trên 700 ha dâu với hơn 1.000 hộ tham gia. Cùng với vùng nguyên liệu, địa phương đã hình thành hệ thống hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở nuôi tằm con, thu mua và chế biến.
Đến năm 2030, xã Trấn Yên đặt mục tiêu duy trì, phát triển khoảng 750 ha dâu, sản lượng kén khoảng 1.500 tấn/năm.
Với Phúc Khánh, điều đáng tham khảo không phải là quy mô diện tích, mà là cách Trấn Yên tổ chức sản xuất. Các hộ được liên kết thông qua hợp tác xã, tổ hợp tác; một số khâu được chuyên môn hóa; sản phẩm sau thu hoạch có đầu mối thu mua và kết nối với chế biến. Cách tổ chức này giúp vùng nguyên liệu gắn chặt hơn với nhu cầu của thị trường.
Chuyến thực tế vì thế gợi mở một vấn đề sát với kế hoạch phát triển nghề dâu tằm ở Phúc Khánh: Mở rộng vùng nguyên liệu cần được tiến hành đồng thời với tổ chức lại sản xuất và củng cố liên kết giữa người dân, hợp tác xã, đơn vị thu mua, chế biến.
Đây cũng là cơ sở để địa phương từng bước chuyển từ các hộ sản xuất riêng lẻ sang phát triển dâu tằm theo chuỗi giá trị.
Từng bước hình thành chuỗi giá trị
Giai đoạn 2026 - 2030, xã Phúc Khánh dự kiến phát triển vùng dâu lên khoảng 60 ha. Để thực hiện kế hoạch này, địa phương định hướng lựa chọn diện tích phù hợp, khuyến khích người dân tham gia trên cơ sở nhu cầu thực tế, đồng thời gắn mở rộng vùng nguyên liệu với tổ chức sản xuất, kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm.
Cùng với việc vận động người dân tham gia, mở rộng vùng dâu cũng đòi hỏi các hộ chủ động đầu tư về giống, nhà nuôi tằm và trang thiết bị phục vụ sản xuất. Đây là những nội dung nằm trong chính sách hỗ trợ của tỉnh theo Nghị quyết số 21/2025/NQ-HĐND của HĐND tỉnh.
Theo đó, người sản xuất dâu tằm được hỗ trợ một phần chi phí, như: cây giống, hom giống để trồng mới, trồng thay thế vùng nguyên liệu; xây mới, sửa chữa nhà nuôi tằm và đầu tư một số thiết bị phục vụ sản xuất.
Theo đồng chí Đoàn Trần Sơn - Phó Chủ tịch UBND xã Phúc Khánh, địa phương sẽ tiếp tục hướng dẫn người dân tiếp cận chính sách hỗ trợ; tăng cường hướng dẫn kỹ thuật và lựa chọn diện tích phù hợp để phát triển cây dâu.
“Cùng với đó, địa phương chú trọng duy trì liên kết từ cung ứng giống đến thu mua, bao tiêu sản phẩm, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung, nâng cao giá trị trên cùng diện tích đất và tạo sinh kế ổn định cho người dân” - đồng chí Đoàn Trần Sơn cho biết.
Từ định hướng này, tổ chức sản xuất là khâu cần được củng cố khi vùng nguyên liệu mở rộng. Các hộ trồng dâu, nuôi tằm cần được liên kết thông qua tổ hợp tác, hợp tác xã, tạo thuận lợi trong tiếp nhận và áp dụng kỹ thuật, cung ứng giống, bố trí sản xuất và tập hợp sản lượng. Hợp tác xã cũng là đầu mối kết nối người dân với đơn vị thu mua, từng bước đưa quan hệ mua bán sản phẩm sang liên kết sản xuất ổn định hơn.
Liên kết sản xuất muốn duy trì ổn định cũng đòi hỏi các hộ tuân thủ quy trình kỹ thuật, bảo đảm năng suất và chất lượng kén. Tằm nhạy cảm với nhiệt độ, độ ẩm và dịch bệnh, do đó chất lượng tằm giống, điều kiện nhà nuôi và quy trình chăm sóc ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả mỗi lứa nuôi. Do vậy, khi vùng nguyên liệu mở rộng, việc tập huấn kỹ thuật, kiểm soát nguồn giống, đầu tư nhà nuôi và thiết bị phù hợp càng cần được chú trọng.
Hiện Hợp tác xã Nấm Tam Đảo đã tham gia thu mua sản phẩm cho người dân; khi diện tích và sản lượng tăng, mối liên kết này cần được tổ chức chặt chẽ hơn về sản lượng, chất lượng và phương thức thu mua. Đồng thời, xã Phúc Khánh cần tăng cường kết nối với doanh nghiệp, cơ sở chế biến để mở rộng đầu ra cho sản phẩm.
Theo định hướng phát triển ngành dâu tằm của tỉnh, đến năm 2030, Lào Cai phấn đấu có trên 2.000 ha dâu, sản lượng kén trên 3.000 tấn, giá trị trên 600 tỷ đồng.
Trong định hướng chung đó, vùng dâu Phúc Khánh cần được phát triển gắn với hệ thống hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ sở chế biến, tạo điều kiện để sản phẩm tham gia sâu hơn vào chuỗi dâu tằm tơ của tỉnh.
Mở rộng diện tích chỉ là một bước trong hành trình phát triển nghề dâu tằm tại Phúc Khánh. Cùng với vùng nguyên liệu, các khâu tổ chức sản xuất, kỹ thuật, liên kết thu mua và chế biến cần được chuẩn bị tương ứng với quy mô phát triển. Đó là cơ sở để nghề trồng dâu, nuôi tằm từng bước nâng giá trị sản xuất và có vị trí rõ hơn trong kinh tế nông nghiệp Phúc Khánh.