Nhu cầu điện tiếp tục tăng cao

Từ nay đến năm 2030, mỗi năm Việt Nam phải tăng về nguồn từ 10.000 - 12.000MW, tương ứng với đó thì hệ thống truyền tải, nhất là các nguồn giải tỏa công suất liên miền và nội miền cũng cần được quan tâm, nên cần sự vào cuộc của các bộ ngành và địa phương.

Cần phải đầu tư rất mạnh về lưới điện truyền tải

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, Việt Nam có mức tăng trưởng 7,09% và với tốc độ tăng trưởng này, điện phải đáp ứng mức khoảng 11-12%, những tháng cao điểm tốc độ tăng trưởng phải đạt 13-15%, đặc biệt có những địa phương công nghiệp trọng điểm tăng 17-18%.

Sửa chữa đường dây 500 kV.
Sửa chữa đường dây 500 kV.

Trong bối cảnh năm 2025, mục tiêu tăng trưởng GDP đạt ít nhất là 8% và phấn đấu ở mức 2 con số. Theo đó, hệ số tăng về điện phải đáp ứng khoảng 1,5 lần, kịch bản cơ sở tương đương 12-13%, kịch bản cao phải đáp ứng được 13-14%, và kịch bản cực đoan phải đáp ứng 15-16%. Với tốc độ tăng trưởng này, mỗi năm Việt Nam phải bổ sung về nguồn, đáp ứng cho nhu cầu đất nước từ 10-12% sản lượng, tương đương 10.000-12.000MW/năm.

Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh, tương ứng với việc tăng trưởng về nguồn, cũng cần phải đầu tư rất mạnh về lưới điện truyền tải, nhất là lưới điện giải tỏa công suất cho những trung tâm năng lượng ở các vùng phụ tải thấp nhưng tiềm năng lớn như vùng Trung Nam Bộ và Tây Nam Bộ.

Cập nhật tình hình thực hiện các dự án theo Quy hoạch điện VIII của Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, đối với các dự án điện sử dụng khí LNG, hiện nay, dự án LNG Nhơn Trạch 3 và 4 tiến độ tổng thể ước đạt 95,5%, dự kiến vận hành nhà máy Nhơn Trạch 3 vào tháng 7/2025 và Nhơn Trạch 4 vào tháng 10/2025. Một số dự án như: Hải Lăng 1 đã hoàn tất công tác thẩm định và đang chờ phê duyệt đầu tư, còn dự án LNG Thái Bình đang được khẩn trương lập hồ sơ khả thi với mục tiêu hoàn thành trong quý II/2025…Các dự án BOT lớn như Sơn Mỹ 1 và 2 các chủ đầu tư đã trình phương án nghiên cứu tiền khả thi, tuy nhiên vẫn gặp khó khăn về cơ chế cần giải quyết.

Đối với các dự án khí điện sử dụng khí trong nước, với chuỗi lô B cơ bản bám sát tiến độ, dự kiến dòng khí đầu tiên sẽ được đưa vào vận hành từ năm 2026-2027, nhưng một số dự án như Nghi Sơn, Cà Ná và Quỳnh Lộc đang chậm tiến độ do vướng mắc về quy định pháp luật trong việc lựa chọn nhà đầu tư.

Về lưới điện, dự án đường dây 500 kV Lào Cai - Vĩnh Yên đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư và dự kiến sẽ khởi công vào năm 2025, hoàn thành trong năm 2026.

Trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi, Quy hoạch Điện VIII đặt mục tiêu vận hành 6.000 MW trong giai đoạn 2026-2030, và Bộ Công Thương hiện đang xây dựng cơ chế lựa chọn nhà đầu tư, đơn vị khảo sát, cũng như xác định danh mục dự án trình Thủ tướng phê duyệt.

Theo Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, hiện tiến độ một số dự án lớn đang bị chậm trễ, chủ yếu do vướng mắc về cơ chế, thay đổi quy định pháp luật và sự phối hợp chưa đồng bộ tại địa phương.

Yêu cầu hoàn thành sớm so với kế hoạch

Để đảm bảo điện cung ứng cho năm 2025 và các năm tiếp theo, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên nêu rõ, đối với các dự án nguồn điện, dự án Nhơn Trạch 3,4 đã xác định phải đưa vào vận hành quý I/2025, đề nghị chủ đầu tư quyết liệt hoàn tất các thủ tục cần thiết phấn đấu hòa lưới điện, phát điện thương mại trong quý I, muộn nhất quý II/2025. Cùng với việc đảm bảo tiến độ thì dự án cần đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật và chất lượng.

Đối với các dự án điện khí đã có chủ đầu tư bao gồm: Hiệp Phước giai đoạn 1, Quảng Ninh, Thái Bình, Quảng Trạch 2, Hải Lăng giai đoạn 1, BOT Sơn Mỹ I, BOT Sơn Mỹ II, Bạc Liêu, Long An, Ô Môn 1,2,3,4, lãnh đạo Bộ Công thương đề nghị các chủ đầu tư phải rất khẩn trương hoàn thành các thủ tục chuẩn bị đầu tư, xây dựng lộ trình cụ thể để triển khai thực hiện, phấn đấu hoàn thành đưa vào vận hành trước năm 2030.

Còn các dự án chưa có chủ đầu tư, bao gồm: Thanh Hóa, Nghệ An và Ninh Thuận, Bộ trưởng đề nghị các địa phương phải lựa chọn được nhà đầu tư chậm nhất quý I/2025. Đồng thời, đề nghị các địa phương tách các dự án ra không nên gộp dự án nhà máy với dự án về hạ tầng khí (kho, bãi, cảng) bởi vì Quy hoạch kho bãi cảng chuyên dụng cho khí đã được xác định trong quy hoạch hạ tầng xăng dầu khí đốt quốc gia.

Các nhà đầu tư nào thấy quy hoạch của mình đã được duyệt phù hợp với quy hoạch hạ tầng xăng dầu khí đốt quốc gia thì hãy đề xuất gộp vào trong dự án điện khí của mình, còn nếu không tách ra. Trong thông báo của Bộ Công thương cũng nêu rõ để các nhà đầu tư và các địa phương đừng hiểu lầm thông tin.

Bộ trưởng Bộ Công thương cũng yêu cầu các Tập đoàn như: PVN, TKV, EVN… sẵn sàng cung ứng khí, than cho các dự án.

Đặc biệt, đối với EVN, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên yêu cầu “cần đẩy nhanh tiến độ để sớm đưa các dự án nguồn điện đang triển khai sớm so với kế hoạch từ 6 tháng trở lên. Dự án nào cũng phải sớm so với kế hoạch, đặc biệt dự án Quảng Trạch 1 trong năm 2027, Hòa Bình mở rộng trong năm 2025, Trị An mở rộng và Thủy điện tích năng Bắc Ái được khởi động trong quý I/2025.

Các dự án nguồn khác mà EVN đang triển khai, có cả dự án liên danh với nhà đầu tư Thái Lan, nếu như nhà đầu tư Thái Lan và Malaysia không thực hiện được thì EVN cũng rà soát lại năng lực của mình và đề xuất trong tháng 1/2025.

Về các dự án truyền tải, Bộ trưởng đề nghị EVN nghiên cứu đầu tư xây dựng các dự án truyền tải theo Quy hoạch điện VIII, sớm hoàn thành các dự án truyền tải phục vụ giải tỏa công suất của các nhà máy như: Nhơn Trạch 3,4; Khẩn trương triển khai thi công đường dây 500kV Lào Cai - Vĩnh Yên để đưa vào vận hành trong năm 2025.

Năm 2025, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP đạt ít nhất là 8% và phấn đấu ở mức 2 con số. Theo đó, hệ số tăng về điện phải đáp ứng khoảng 1,5 lần, kịch bản cơ sở tương đương 12-13%, kịch bản cao phải đáp ứng được 13-14%, và kịch bản cực đoan phải đáp ứng 15-16%. Với tốc độ tăng trưởng này, mỗi năm Việt Nam phải bổ sung về nguồn, đáp ứng cho nhu cầu đất nước từ 10-12% sản lượng, tương đương 10.000-12.000MW/năm.

daidoanket.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Chủ động nhận diện nguy cơ buôn lậu, gian lận thương mại

Chủ động nhận diện nguy cơ buôn lậu, gian lận thương mại

Hàng lậu xé lẻ trôi nổi qua biên giới; hàng giả len lỏi vào các điểm du lịch; còn trên không gian mạng, hành vi vi phạm ẩn sau những tài khoản và giao dịch ảo. Thực tế ấy yêu cầu các lực lượng chức năng tỉnh không chỉ phát hiện, xử lý nghiêm hành vi vi phạm mà còn phải chủ động nhận diện nguy cơ, quản lý chặt địa bàn và ngăn chặn từ sớm, từ xa.

Gỡ “điểm nghẽn” đường tỉnh 163, mở đường cho Châu Quế phát triển

Gỡ “điểm nghẽn” đường tỉnh 163, mở đường cho Châu Quế phát triển

Nhiều năm qua, đường tỉnh 163 được xem là tuyến giao thông huyết mạch kết nối xã Châu Quế với xã Bảo Hà và các địa phương lân cận. Tuy nhiên, hơn 20km trên tuyến chưa được đầu tư hoàn chỉnh, mặt đường hẹp, xuống cấp, nhiều vị trí tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông. Đặc biệt, cầu Quần tại Km 65+400 bị hỏng do ảnh hưởng của mưa lũ, xe có trọng tải lớn không thể lưu thông trong nhiều năm, trở thành “điểm nghẽn” đối với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Tân Hợp khánh thành hai công trình giao thông trị giá gần 3 tỷ đồng

Tân Hợp khánh thành hai công trình giao thông trị giá gần 3 tỷ đồng

Ngày 16/8, xã Tân Hợp (tỉnh Lào Cai) tổ chức khánh thành và đưa vào sử dụng hai công trình giao thông tại thôn Nà Hẩu và thôn Làng Bang sau gần 2 tháng thi công. Đây là những công trình có ý nghĩa thiết thực đối với việc đi lại của người dân, nhất là tại các khu vực thường chịu ảnh hưởng của mưa lũ và địa hình chia cắt.

Lào Cai: Chủ động phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ hơn 45.220 ha lúa vụ mùa

Lào Cai: Chủ động phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ hơn 45.220 ha lúa vụ mùa

Thời tiết nắng, mưa xen kẽ, độ ẩm cao đang tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại sinh vật gây hại phát sinh, gia tăng trên các trà lúa vụ mùa. Ngành chuyên môn và các địa phương trong tỉnh đang tăng cường kiểm tra đồng ruộng, hướng dẫn người dân chủ động phòng trừ, bảo vệ hơn 45.220 ha lúa, góp phần bảo đảm năng suất, sản lượng vụ mùa.

Mở hướng sản xuất hàng hóa ở Tà Xi Láng

Mở hướng sản xuất hàng hóa ở Tà Xi Láng

Từ những giàn su su trên triền núi đến đàn gia súc của các hộ nghèo được Nhà nước hỗ trợ, Tà Xi Láng đang từng bước hình thành những mô hình kinh tế dựa trên lợi thế về khí hậu, đất đai và tài nguyên rừng. Không chỉ cải thiện thu nhập, người dân địa phương còn dần thay đổi tư duy, từ sản xuất tự cấp, tự túc sang tính toán năng suất, giá bán, quy mô và đầu ra sản phẩm.

fb yt zl tw