Ngôi đền cổ linh thiêng, nơi thờ thần rắn

Đền Kinh Hạ là một trong những ngôi đền cổ kính tại thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà tĩnh. Đền có biểu tượng độc đáo với tín ngưỡng thờ thần Rắn - một trong những tín ngưỡng sơ khai của người Việt cổ, là điểm đến để người dân bày tỏ lòng thành kính với mong muốn mưa thuận gió hòa.

Đền Kinh Hạ được xây dựng vào đầu triều Nguyễn tại làng Kinh Hạ, nay thuộc khu phố Tiến Hưng (phường Thạch Hưng, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh). Ngôi đền ra đời trong bối cảnh tín ngưỡng thờ thủy thần, phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng nông nghiệp Việt cổ, nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân sống ở vùng sông nước.

Đền Kinh Hạ được xây dựng vào đầu triều Nguyễn tại làng Kinh Hạ, nay thuộc khu phố Tiến Hưng (phường Thạch Hưng, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh). Ngôi đền ra đời trong bối cảnh tín ngưỡng thờ thủy thần, phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng nông nghiệp Việt cổ, nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân sống ở vùng sông nước.

Qua thời gian, ngôi đền đã trải qua nhiều lần trùng tu, cụ thể vào các năm 1919, 1921 và 1929 dưới triều vua Khải Định và Bảo Đại, nhằm bảo tồn vẻ đẹp uy nghi và gia cố cấu trúc trước những biến đổi của thiên nhiên và lịch sử.

Qua thời gian, ngôi đền đã trải qua nhiều lần trùng tu, cụ thể vào các năm 1919, 1921 và 1929 dưới triều vua Khải Định và Bảo Đại, nhằm bảo tồn vẻ đẹp uy nghi và gia cố cấu trúc trước những biến đổi của thiên nhiên và lịch sử.

Ông Nguyễn Công Tú, Thủ từ Đền Kinh Hạ cho biết: Đền Kinh Hạ thờ thần Rắn làm thành hoàng làng là một dạng tín ngưỡng rất sơ khai của cư dân bản địa gắn liền với tục thờ thủy thần - Long Vương của người Việt cổ.

Ông Nguyễn Công Tú, Thủ từ Đền Kinh Hạ cho biết: Đền Kinh Hạ thờ thần Rắn làm thành hoàng làng là một dạng tín ngưỡng rất sơ khai của cư dân bản địa gắn liền với tục thờ thủy thần - Long Vương của người Việt cổ.

Người dân làng Kinh Hạ đã mang hình mẫu huyền thoại của tín ngưỡng phổ biến làm tài sản tinh thần của mình.

Người dân làng Kinh Hạ đã mang hình mẫu huyền thoại của tín ngưỡng phổ biến làm tài sản tinh thần của mình.

Đây là sự hòa nhập vào đời sống tinh thần và ý thức tâm linh chung của cả dân tộc và vừa là khẳng định sức sống mãnh liệt của đời sống tâm linh như là một nhân tố chủ yếu và cố kết cộng đồng làng xã.

Đây là sự hòa nhập vào đời sống tinh thần và ý thức tâm linh chung của cả dân tộc và vừa là khẳng định sức sống mãnh liệt của đời sống tâm linh như là một nhân tố chủ yếu và cố kết cộng đồng làng xã.

Đền Kinh Hạ sở hữu kiến trúc cổ kính, bao gồm Thượng Điện, Hạ Điện, hệ thống tam quan, tắc môn, nhà tả hữu vu, ban tế ngoài trời, nhà trù.

Đền Kinh Hạ sở hữu kiến trúc cổ kính, bao gồm Thượng Điện, Hạ Điện, hệ thống tam quan, tắc môn, nhà tả hữu vu, ban tế ngoài trời, nhà trù.

Thượng Điện là nơi thờ các vị thiên thần và nhân thần, trong đó nổi bật là thần Rắn - Long Vương, được tôn xưng là Thượng Thượng Thượng Đẳng Thần. Đây là trung tâm tâm linh của cả vùng, nơi lưu giữ các giá trị văn hóa và lịch sử độc đáo.

Thượng Điện là nơi thờ các vị thiên thần và nhân thần, trong đó nổi bật là thần Rắn - Long Vương, được tôn xưng là Thượng Thượng Thượng Đẳng Thần. Đây là trung tâm tâm linh của cả vùng, nơi lưu giữ các giá trị văn hóa và lịch sử độc đáo.

Hằng năm, đền Kinh Hạ tổ chức hai kỳ lễ tế lớn: Lễ Khai Hạ vào mùng 7 tháng Giêng âm lịch và Lễ Kỳ Phúc Lục Nguyệt vào rằm tháng 6 âm lịch.

Hằng năm, đền Kinh Hạ tổ chức hai kỳ lễ tế lớn: Lễ Khai Hạ vào mùng 7 tháng Giêng âm lịch và Lễ Kỳ Phúc Lục Nguyệt vào rằm tháng 6 âm lịch.

Được biết, Đền Kinh Hạ có 9 đạo sắc của các Vua thời nhà Nguyễn ban dụ, song do thời gian, thiên tai, chiến tranh hiện còn 3 đạo sắc (bản sao) của các triều vua: Đạo sắc Vua Thành Thái năm thứ 6, tháng 9, ngày 25 năm 1894; Đạo sắc Vua Duy Tân năm thứ 3, tháng 8, ngày 11 năm 1909; Đạo sắc Vua Khải Định năm thứ 9, tháng 7, ngày 25 năm 1924.

Được biết, Đền Kinh Hạ có 9 đạo sắc của các Vua thời nhà Nguyễn ban dụ, song do thời gian, thiên tai, chiến tranh hiện còn 3 đạo sắc (bản sao) của các triều vua: Đạo sắc Vua Thành Thái năm thứ 6, tháng 9, ngày 25 năm 1894; Đạo sắc Vua Duy Tân năm thứ 3, tháng 8, ngày 11 năm 1909; Đạo sắc Vua Khải Định năm thứ 9, tháng 7, ngày 25 năm 1924.

Đền Kinh Hạ là một công trình lịch sử - văn hóa có giá trị kiến trúc, nghệ thuật, là ngôi đền có quy mô khá lớn đã được UBND tỉnh Hà Tĩnh cấp Bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa năm 2008.

Đền Kinh Hạ là một công trình lịch sử - văn hóa có giá trị kiến trúc, nghệ thuật, là ngôi đền có quy mô khá lớn đã được UBND tỉnh Hà Tĩnh cấp Bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa năm 2008.

Đền Kinh Hạ là một minh chứng sống động cho sức sống bền bỉ của văn hóa dân gian và tín ngưỡng Việt Nam. Với vai trò là trung tâm tín ngưỡng và điểm tựa tinh thần, ngôi đền không chỉ lưu giữ những giá trị lịch sử quý báu mà còn tiếp tục phát huy vai trò kết nối tinh thần, giáo dục truyền thống cho thế hệ mai sau.

Đền Kinh Hạ là một minh chứng sống động cho sức sống bền bỉ của văn hóa dân gian và tín ngưỡng Việt Nam. Với vai trò là trung tâm tín ngưỡng và điểm tựa tinh thần, ngôi đền không chỉ lưu giữ những giá trị lịch sử quý báu mà còn tiếp tục phát huy vai trò kết nối tinh thần, giáo dục truyền thống cho thế hệ mai sau.

Báo Đại đoàn kết

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Câu lạc bộ Trống Lạc Hồng - điểm hẹn văn hóa của người yêu nghệ thuật ở phường Sa Pa

Câu lạc bộ Trống Lạc Hồng - điểm hẹn văn hóa của người yêu nghệ thuật ở phường Sa Pa

Giữa nhịp sống hiện đại, Câu lạc bộ Trống Lạc Hồng ở phường Sa Pa đang trở thành điểm hẹn văn hóa gắn kết cộng đồng. Không chỉ là nơi tập luyện văn nghệ, câu lạc bộ đang trở thành điểm kết nối tinh thần của nhiều người dân địa phương, đặc biệt là người trung và cao tuổi. Những buổi sinh hoạt đều đặn với tiếng trống rộn ràng, điệu múa sôi động không chỉ tạo sân chơi bổ ích mà còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa, lan tỏa tinh thần đoàn kết trong cộng đồng dân cư.

Khi lời thơ cất thành giai điệu

Khi lời thơ cất thành giai điệu

Trong đời sống âm nhạc Việt Nam, có nhiều ca khúc quen thuộc được khơi nguồn từ thơ ca. Những vần thơ khi cất lên thành giai điệu trở nên gần gũi và giàu cảm xúc hơn với người nghe. Tại Lào Cai, nhiều tác phẩm của tác giả Nguyễn Văn Hoàn đã được các nhạc sĩ phổ nhạc, mang sức sống mới cho thơ ca và lan tỏa hình ảnh quê hương, con người vùng cao qua âm nhạc.

Tạo sức sống cho văn hóa truyền thống

Tạo sức sống cho văn hóa truyền thống

Sớm cụ thể hóa bằng nhiều hoạt động thiết thực, trong đó mục tiêu lấy bảo tồn di sản làm nền tảng, lấy văn hóa làm nội lực để phát triển, bản sắc văn hóa được nuôi dưỡng từ chính sự tự giác và lòng tự hào của mỗi người dân Mường Lai.

Giữ gìn di sản từ những cổ vật xưa

Giữ gìn di sản từ những cổ vật xưa

Trong dòng chảy của đời sống xã hội hiện đại, có những di sản văn hóa quý giá của lịch sử dân tộc dần bị mai một rồi mất đi theo năm tháng, chỉ còn trong những câu chuyện kể. Vậy nhưng, nơi mảnh đất biên cương Lào Cai vẫn có những người dù không phải là nhân viên bảo tàng hay chuyên viên ngành văn hóa, nhưng tâm huyết với công việc sưu tầm, gìn giữ những hiện vật nghìn năm tuổi để thế hệ sau hiểu hơn về lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Giữ hồn trà cổ

Giữ hồn trà cổ

Ở nơi cao gần 1.400 m so với mực nước biển, cây chè không chỉ là sinh kế, mà còn là ký ức, là niềm tự hào, là “hồn cốt” của người Mông trên đỉnh Suối Giàng (xã Văn Chấn) từ bao đời. Cây chè đang được gìn giữ theo cách rất riêng, bắt đầu từ giáo dục bài bản, giúp thế hệ trẻ nơi đây vun đắp tình yêu, niềm tự hào, sớm hình thành ý thức trân quý và gìn giữ di sản mà cha ông đã trao truyền.

Lặng thầm giữ gìn sắc màu văn hoá

Lặng thầm giữ gìn sắc màu văn hoá

Giữa nhịp sống hiện đại, ở thôn Kiên Lao, xã Quy Mông có nghệ nhân Hà Thị Thanh Tịnh lặng lẽ gìn giữ làn điệu dân ca, điệu múa truyền thống của dân tộc mình bằng tất cả đam mê và trách nhiệm. 

Giáo dục văn hóa địa phương cho thế hệ trẻ

Giáo dục văn hóa địa phương cho thế hệ trẻ

Trong kỷ nguyên số, sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của các yếu tố gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống, nhất là đối với người trẻ. Do vậy, cấp ủy, chính quyền các địa phương trong tỉnh đóng vai trò là “lá chắn” bảo vệ bản sắc, xây dựng sức đề kháng văn hóa cho thanh niên.

Khi văn hóa trở thành tài nguyên du lịch

Khi văn hóa trở thành tài nguyên du lịch

Trong xu thế phát triển du lịch hiện nay, nhiều địa phương không còn dừng ở việc “khoe” cảnh quan thiên nhiên, mà đã chuyển sang gìn giữ, khai thác chiều sâu giá trị văn hóa. Tại Tú Lệ, hướng đi này đang được lựa chọn một cách rõ ràng - coi văn hóa là tài nguyên cốt lõi, là nền tảng để phát triển du lịch gắn với sinh kế lâu dài.

Nghĩa Đô - miền quê đáng sống

Nghĩa Đô - miền quê đáng sống

Phát triển du lịch cộng đồng gắn với nông nghiệp bền vững, giữ vững an ninh trật tự, xây dựng địa bàn không ma túy - đó là cách mà xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai đang kiên trì thực hiện, từng bước kiến tạo một miền quê đáng sống.

Mang bản sắc xuống phố bằng tư duy kinh tế

Mang bản sắc xuống phố bằng tư duy kinh tế

Năm 2025, tốt nghiệp đại học loại Giỏi nhưng không chọn con đường ổn định nơi phố thị - Giàng Thị Gấm, dân tộc Mông (23 tuổi) sinh ra và lớn lên ở thôn Ngã Ba, xã Si Ma Cai đã trở về quê hương khởi nghiệp với việc mở cơ sở Thiết kế trang phục dân tộc Mông cách tân - Mongi tại thôn Sản Sín Pao, xã Sín Chéng.

Lễ hội quả Còn Nghĩa Đô 2026: Tôn vinh bản sắc dân tộc Tày

Lễ hội quả Còn Nghĩa Đô 2026: Tôn vinh bản sắc dân tộc Tày

Vừa qua, tại thôn Mường Kem, UBND xã Nghĩa Đô tổ chức Lễ hội quả còn năm 2026. Sự kiện nằm trong chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026) và 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

fb yt zl tw