Sự kiện thực sự mang lại quyền làm chủ, thực hành cao nhất việc đưa người dân vào nền chính trị dân chủ nhân dân.
Suốt hơn ngàn năm Bắc thuộc, dân ta chịu cảnh bị đồng hóa bởi tư tưởng Hán hóa. Các triều đại phong kiến phương Bắc thay nhau thực hiện âm mưu biến con cháu của Hùng Vương, An Dương Vương thành một vùng lãnh thổ thuộc người Hán. Bộ máy cai trị của người Hán đè nặng lên kiếp đời nô tỳ, người Giao Chỉ bị lâm vào cảnh tiêu vong. Lãnh thổ thời Hùng Vương, cương vực của thời Thục Phán chỉ còn trong truyền thuyết, bị chia thành quận, huyện thuộc các vương triều Trung Hoa. Mãi tới khi sự hồi sinh dân tộc đủ tinh thần thoát ách đồng hóa (từ Chiến thắng Bạch Đằng năm 938), dân tộc Việt bước vào kỷ nguyên độc lập và xác lập nhà nước phong kiến lâu dài. Các triều đình phong kiến độc lập, tự chủ (tiêu biểu là Lý, Trần, Lê) nối tiếp nhau đã làm rạng danh quốc gia phong kiến Đại Việt. Trong đó, triều đại nào cũng luôn dựa vào sức mạnh của lòng dân yêu nước, giàu tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường dân tộc. Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng trong chiều dài gần 1.000 năm chế độ phong kiến, đặt dấu chấm hết cho thể chế chính trị mà mọi quyền hành nằm trong tay vua, “thảo dân” thực sự là “lê dân”, luẩn quẩn trong kiếp đời “cái cò”, “con kiến”...
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự kiện long trời lở đất, thay đổi sơn hà. Đây là gạch nối lịch sử chuyển qua thời đại dân chủ nhân dân. Từ đây, người dân Việt Nam không còn chịu kiếp tôi đòi, phục dịch cho thực dân, phong kiến. Họ được sống một cuộc đời làm chủ chế độ chính trị, được rũ bỏ thân phận trâu ngựa để bước lên vũ đài chính trị thời hiện đại trong lịch sử nhân loại. Các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu, điển hình từ Âu - Mỹ dù mang nhãn hiệu là cách mạng dân chủ, song cũng chưa từng mang lại quyền dân chủ như Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là người có công trực tiếp đem đến luồng sinh khí lịch sử chính trị hoàn toàn mới, thay đổi về bản chất cho “dân đen” Việt Nam. Bằng nhãn quan chính trị nhạy bén, sâu sắc, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rất trúng, rất đúng ngay từ khi Người quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, rằng sẽ tìm đường đưa dân tộc mình thoát khỏi ách nô lệ, làm cho dân mình được tự do, hạnh phúc. Cách mạng vô sản là phương thuốc chính trị hữu hiệu nhất để thực hiện khát vọng đó.
Ngay trong tác phẩm "Đường Kách mệnh" (ấn hành năm 1927), Người đã khẳng định phải làm “cách mạng xã hội triệt để”, không làm cách mạng nửa vời như ở Anh, Mỹ, Pháp. Người nhấn mạnh, sự đổi đời này là sự nghiệp vĩ đại, phải có sự chung sức đồng lòng của muôn dân, có sự đoàn kết quốc tế, phải làm lâu dài, kiên trì. Cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là sự thể hiện tính đột biến tư tưởng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh. Trước khi diễn ra cuộc Tổng tuyển cử, Người đã có bài viết “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” đăng trên Báo Cứu quốc số 134 ngày 5/1/1946 với lời lẽ rất giản dị và dễ hiểu: “Ngày mai 6/1/1946, ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền làm chủ của mình”. Sau 80 năm đọc và suy ngẫm lời của Người, những người dân yêu nước Việt Nam càng thấm đẫm giá trị nhân văn mang thông điệp thời đại mới trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam.
80 năm trước, dân ta phấn khởi, hồi hộp, được thực hiện quyền làm công dân một nước độc lập, làm chủ nhân một chế độ mà ngay từ khi sắp sửa xác lập đã khẳng định người dân là trung tâm của cách mạng, là chủ nhân của nền dân chủ mới. Mặt trận Việt Minh, với 10 điểm chính sách mới, là bước tập dượt đưa người dân vào trung tâm quyền lực của hệ thống chính trị mang bản chất dân chủ nhân dân. Ngay ngày đầu sau Tuyên ngôn độc lập, khi dư âm lời thề độc lập còn vang vọng trong muôn dân, loan ra thế giới, thì phiên họp đầu tiên của Chính phủ, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không bàn về quyền lực và lợi ích cho bộ máy cầm quyền, mà là bàn về “những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” gồm 6 vấn đề cấp bách hơn cả:
“(1) Giải quyết nạn đói bằng việc phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất và đề nghị mười ngày một lần, tất cả đồng bào ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo.
(2) Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ.
(3) Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.
(4) Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
(5) Đề nghị bỏ các thuế thân, thuế chợ, thuế đò, tuyệt đối cấm hút thuốc phiện.
(6) Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương giáo đoàn kết”.
Đó là chân dung quyền lực buổi đầu kiến tạo nhà nước kiểu mới, tất cả vì lợi ích quốc gia dân tộc, người dân là chủ thể trong sự kiến tạo vĩ đại này. Người đứng đầu Nhà nước kiểu mới hoàn toàn khác với ông vua khi nhậm chức dưới thời phong kiến. Người dân dưới chế độ mới được quan tâm, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, được tổ chức lại theo nếp sống văn minh, được giáo dục lại theo nền tảng văn hóa và đạo đức làm người, có quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc, đem trí tuệ và nhiệt huyết tự quyết cuộc đời mới cho mình, nâng cao tầm vóc dân tộc. Như vậy, chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mang hơi thở thời đại, vượt lên Công xã Paris vượt lên các cuộc cách mạng tư sản Âu - Mỹ. Chế độ dân chủ của Việt Nam thực sự là một mô hình xã hội chủ nghĩa phù hợp điều kiện lịch sử của Việt Nam và đúng với xu thế thời đại.
Kỳ bầu cử Quốc hội khóa XVI tới đây sẽ là sự tiếp nối thành công Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng - kỳ đại hội khởi đầu kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Thành công của kỳ bầu cử vào tháng 3-2026 sẽ góp thêm sức mạnh chính trị từ tinh thần làm chủ của nhân dân. Dù cuộc bầu cử này chưa diễn ra, song chắc chắn sẽ thành công rất tốt đẹp, bởi nó được đứng trên tiền đề lịch sử từ cuộc bầu cử 80 năm trước, được bồi đắp niềm tin qua 13 kỳ Đại hội Đảng và 15 kỳ bầu cử Quốc hội. Cơ đồ dân tộc sau 80 năm dựng xây chế độ dân chủ nhân dân, đặc biệt là sau 40 năm đổi mới, nay đã tích lũy đủ các thành tố quyết định đưa Việt Nam tiến tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc trên thế giới. Lòng dân tin tưởng vào Đảng, vào chế độ, mỗi lá phiếu cử tri dù già hay trẻ, dù miền xuôi hay miền ngược, dù có tôn giáo hay không, dù đang sinh sống ở nước ngoài hay trong nước…, tất cả đều ý thức sâu sắc trách nhiệm chính trị của mình, như cách đây 80 năm, thế hệ đầu tiên đại diện cho người dân một nước độc lập được thụ hưởng quyền làm người, đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử với chế độ mới.