LCĐT - Khi cánh đồng lúa ngả sang màu vàng cũng là bắt đầu vào mùa trám. Cái cây có lớp da màu trắng sữa, cây nào cây nấy cũng vươn cái thân lực lưỡng như đâm lên đến tận trời xanh, hút lấy khí trời để tích vào những quả trám chín treo lúc lỉu trên những cành cây xum xòe, đủ vị ngọt bùi đắng cay. Thịt trám đen đem trội với xôi nếp nương thì ăn ngon nhớ cả đời. Quả trám màu đen nhưng bên trong của nó lại chứa những lớp thịt màu hồng phấn liêm khiết, thịt trám đen trộn với xôi để dâng cúng tổ tiên, thần lúa sau khi cắt xong cây lúa cuối cùng của một mùa.
Ngoài rừng trám vọng lại tiếng kêu của loài chim có bộ lông đen như mình quả trám. Bà tôi bảo đó là loài chim yểng. Vào mùa trám chín chúng mới kéo nhau về, tiếng kêu của nó vang đi gọi bạn tình, báo hiệu một mùa sinh nở mới. Loài yểng này khôn, thông minh hơn tất cả các loại chim trong rừng. Nhưng cũng rất lạ, mỗi mùa sinh nở của chúng chỉ đẻ hai quả trứng, nở ra một con đực một con cái, chưa bao giờ yểng đẻ đến quả trứng thứ ba như các loài nộc chiêu, nộc chích, nộc chóc báo hại màu màng. Tổ chim yểng thường làm ở những hốc cây trám già cao chót vót, mưa nắng bao nhiêu cũng không làm ướt được con non. Đã có không ít người vì muốn lấy bằng được con chim non về nuôi đã phải bỏ mạng.
![]() |
| Ảnh minh họa (Nguồn internet). |
Lắm kẻ vì đồng tiền mà xem nhẹ mạng sống của mình. Mà loại chim này có sạch sẽ gì đâu cơ chứ. Bộ lông thì đen thế kia, chỉ có đôi chân và cái mỏ màu đỏ là ưa được. Phải chăng những người chết vì chim họ nghĩ theo một cách khác? Vì tiền? Hay vì chim biết nói tiếng người?
Bà tôi kể trước đây nhà nuôi một con yểng biết nói. Nó gọi tên người rành rọt, biết gọi lợn, gọi chó về ăn cơm. Khách vừa vào đến cổng nó đã réo vang gọi chủ. Bao nhiêu người từ các nơi khác đến gạ bán, đã có người ra giá cả chục triệu đồng nhưng bà vẫn không bán. Bởi vì con chim hay quá, cùng với con chó bin nó giữ nhà rất chắc. Mỗi khi người lạ lảng vảng quanh nhà nó liền bay đi tìm chủ. Nó báo cho chủ biết nhà có khách. Nó còn có thể thay người chăn trâu, bò. Mỗi khi con vật to xác kia đi vào đám ngô, lúa, nó hét trâu không nghe liền bay xuống dùng cái mỏ mổ vào mắt con trâu, con vật to xác không chịu được đau đã phải đi ra khỏi đám ngô, lúa. Nhưng chỉ một lần người nhà cắt tiết gà để nó nhìn thấy chú yểng đã cắn lưỡi tự tử, cả nhà ai cũng thương tiếc. Con bin, bạn thân của nó bỏ ăn mấy ngày liền. Tôi không thể tin nổi, một con yểng nhỏ bé như thế kia lại có thể làm được những việc to lớn như thế.
*
Bước chân đi ngang qua rừng trám, tôi phát hiện ra trên cây trám cổ thụ có rất nhiều tổ chim. Nhiều lắm. Từng cặp chim bố mẹ cứ ra vào liên tục mớm mồi cho con non. Hẳn là những con chim non sắp bay được rồi. Tôi sẽ trèo lên lấy chim non đem về nhà nuôi bằng cơm rang trộn với trứng gà. Nó sẽ biết nói, sẽ gọi tên tôi, nghe lời của tôi. Nó sẽ cùng tôi đi chăn trâu ngoài bãi thả. Tôi khao khát có được đôi chim non về nuôi từ lâu lắm rồi.
Nhưng làm sao lấy được chúng? Đó là một vấn đề nan giải. Từ mặt đất lên đến tổ của nó ít nhất cũng vài ba chục mét, nếu dùng cây tre áp vào thân cây trám, dùng dây buộc lại thành từng bậc thì cũng phải vài chục mấu buộc. Nhưng thân cây đường kính còn to hơn cả cái bồ thóc, năm sáu người ôm mới xuể thì làm sao có thể vòng được đầu dây sang bên kia để buộc một cách chắc chắn? Bằng không lỡ có chuyện gì thì bỏ mạng chứ không thể đùa được với cái trò chơi nguy hiểm này. Hay mình chặt nhiều cây tre dựng nó lên rồi theo giẫm lên những đốt cây để đi lên? Không thể được, cây tre nặng và dài, dù có dựng lên được cũng chỉ được một phần tám, chín thân cây trám cổ thụ. Không thể leo lên lấy được tổ chim, nguy hiểm vô cùng, bao nhiêu người đã chết ở đây rồi. Tôi thật sự sợ hãi, đã nghĩ hết mọi cách rồi. Nhưng rồi trong đầu của tôi lại lóe lên một tia hy vọng. Tại sao lại không dùng đinh đỉa đóng vào thân cây nhỉ? Tôi tin chắc với số đinh mà chú Bằng, chú Tâm đoàn thăm dò địa chất một trăm mười tám ăn ở nhà tôi năm ngoái để lại cho tôi. Tôi có thể lên đến tận ngọn cây trám cổ thụ, sẽ lấy được tổ chim non về nuôi một cách dễ dàng. Được rồi… có cách rồi… chim yểng… này b… à ơ… i… Ha… ha… ha tôi reo lên đầy vui sướng.
- Chung ơi, Chung ơi, cháu cười cái gì mà to thế? Tỉnh lại đi, lảm nhảm chim chiếc gì thế hả?
Bà gọi đến bốn năm lần tôi mới tỉnh. Thì ra tôi vừa trải qua một giấc mơ kỳ lạ.
Tôi lên thăm vườn trám, xem chùm quả đã chín đen lúc lỉu chưa. Gió từ dưới cánh đồng thổi lên mang theo hương thơm của mùa lúa chín làm tôi say ngây ngất. Đó là mùi của sự ấm no. Mùi hương thơm quen thuộc đối với những người làm ra hạt thóc, hạt gạo. Tôi đã được tận hưởng mùi hương thơm của lúa đã hai mươi lăm mùa lúa chín. Bạn cùng trang lứa người đi vào nam, kẻ đi đãi vàng, người thì ra thành phố học nghề, người đi làm thuê nơi xứ người. Nhưng tôi chưa dám nghĩ đến việc bỏ quê lên thành phố, nơi con người bon chen, kèn cựa để kiếm sống. Người nào cũng muốn ra Thủ đô làm đủ nghề để sống, có người làm thuê, có kẻ ăn xin, người làm cửu vạn cũng chấp nhận miễn là họ được mọi người gọi là dân thành phố hay ít ra cũng gọi là “người làm việc ở thành phố”. Họ cứ ra đi, không ai có thể cản bước chân của họ, chỉ thương cho mảnh đất nhỏ hẹp mà phải gánh trên mình chục triệu người.
Tôi thích sống trong bầu không khí trong lành ở quê, nơi có những con yểng cất tiếng kêu rộn ràng khi mùa trám chín. Tiếng kêu của nó vang đi rất xa. Chỉ có những mảnh đất lành thì chim mới kéo nhau về làm tổ, dấu hiệu tốt lành về một vùng đất đã hồi sinh mạnh mẽ sau bao nhiêu năm bị chặt phá, hỏa hoạn làm xơ xác. Dưới những tia nắng như rót mật, những trái trám vừa chín dần một nửa càng thêm rạng rỡ giữa bầu trời xanh thẳm bao la, những chùm quả đen treo xuống trông đến thèm khát. Tôi dạo bước đi qua rặng bồ đề, tre nứa bước vào vườn trám già cổ thụ mà bà tôi thường gọi là cây trám thần có từ ngàn năm trước. Năm nay cây trám cổ thụ sai quả lắm, nhất định sẽ cho mùa bội thu. Tầng tán của cây trám này vươn rộng ra phải đến vài trăm mét vuông. Nhưng đã mấy chục năm rồi không ai dám trèo lên cây trám già để hái quả. Không phải vì nó cao lớn người ta bó tay mà theo lời bà tôi kể thì cây trám già này bắt rễ đúng long mạch - nơi giao hòa giữa trời và đất vì thế cây trám này có thần linh trú ngụ. Nếu ai dám trèo lên cây vặt quả, bắt chim, thần cây sẽ kéo chân xuống ngã chết. Tôi không tin vào chuyện ma quỷ, thần linh lắm. Khi tôi lên tám thì mẹ mất, mẹ chết vì ung thư phổi, còn bố mất khi tôi còn đang trong bụng mẹ, tôi chỉ biết bố chết vì ngã từ trên cây cao xuống đất. Là tôi nghe bà nói thế, chứ làm sao tôi biết bố chết thảm thương như thế nào. Chỉ biết rằng mỗi năm vào ngày Chín tháng Mười âm lịch, bà tất bật thổi xôi, mổ gà, luộc trứng, rán cá làm mâm cơm giỗ bố tôi. Bố tôi chết trước ngày cúng thần lúa đúng một ngày. Bà bảo hằng năm vào ngày này nhớ làm mâm cơm giỗ bố mày, sau này bà chết đi thì phải nhớ nói cho con, cháu biết để làm giỗ.
Bố tôi chết một cách thảm thương. Một cơn báo mộng cho tôi rất chính xác. Khi tôi đóng được năm cái đinh đỉa vào thân cây trám thần thì đột nhiên xuất hiện một nhóm bốn, năm người. Rõ nhất là một người đàn ông mặc bộ đồ bộ đội đã cũ màu, người dong dỏng cao, chân đi chân đất, khuôn mặt dài đen sạm, chứng tỏ cuộc đời đã trải qua nhiều sóng gió, dãi nắng dầm sương. Trên lông mày bên phải người đó có một vết sẹo dài, máu me đầy người. Người đó đã cản không cho tôi lên cây: “Đừng. Không được trèo lên cây thần”. Mỗi khi tôi bước lên, người đàn ông đó lại kéo xuống. Cứ thế, tôi không sao thắng nổi người đó. Người đó đã làm tôi ngã xuống gốc cây. Tôi hét toáng lên vì sợ. “Con ngoan, nghe lời bố nào, đừng trèo lên đó nguy hiểm lắm. Con mà đi lên thì mấy người này sẽ đẩy con từ trên cây cao xuống đấy. Bố không ngăn cản được họ đâu”. Khi tỉnh dậy toàn thân tôi ướt đẫm mồ hôi. Tôi đã gặp bố trong một hoàn cảnh như thế.
Bà ôm tôi vào lòng như bà đã từng ôm đứa con trai bé bỏng của mẹ. Bố chết vì trèo lên cây thần hái quả trám để làm cơm cúng thần lúa mới. Bố đã chết trên đôi tay của người mẹ già nua, tóc bạc quá nửa. Mọi người tìm cáng đưa bố đi bệnh viện cấp cứu nhưng đã quá muộn. Bố chết rồi mắt vẫn mở trừng, bố lo cho bà, cho vợ sắp đến ngày ở cữ. Cả đời bố lặn lội trong chiến trường, đến năm mươi tuổi mới kịp lấy vợ vậy mà chưa thấy mặt con đã sớm phải rời khỏi thế gian. Tất cả ào như một cơn gió, như một giấc mộng sớm tàn phai.
Bà rót thêm rượu vào những cái chén ma, đốt thêm mấy đồng tiền giấy. Bà nói như khóc: “Không chỉ có bố mày ngã chết ở cây trám thần ấy đâu. Bác Hằng, bác Hạnh, bác Hưng cũng bị thần cây bắt phạt vì dám đóng đinh thân cây trèo lên lấy tổ chim yểng. Chú Thu, chú Xoòng cũng bị hoa mắt khi mới leo được nửa thân cây trám. Đến cái chết của thằng Cửu - bố mày, tổng cộng đã có sáu người bị thần trám ngàn năm bắt đi rồi”. Từ đó dù ai có lá gan to đến đâu cũng không dám lại gần cây trám thần nữa, mặc dù ở trên cây trám cổ thụ này có rất nhiều tổ chim yểng. Những người nổi tiếng leo trèo kéo về đây, nhưng đứng trước cây trám tự nhiên máu hăng hái lấy được chim yểng biến đâu mất. Thay vào đó là nỗi sợ hãi khi họ biết được những con người bỏ mạng được khắc vào thân cây. Họ biết rằng dù có trèo lên được tổ yểng gần nhất, nhưng lỡ để sểnh tay, trượt chân thì cuộc đời coi như đặt dấu chấm hết. “Một đôi chim yểng biết nói tiếng người với người chơi chim có thể bỏ ra hàng chục triệu, thậm chí hàng trăm triệu đồng để mua về. Nhưng cháu đừng bao giờ tham lam dại dột trèo lên cây đổi mạng sống của mình”.
Bây giờ tôi đã hiểu, bao nhiêu năm qua, mặc dù năm nào cây trám cổ thụ vẫn ra hoa kết trái, nhưng chẳng còn ai nghĩ đến chuyện vặt quả của nó nữa. Bà tôi không cho phép tôi ăn quả của cây trám già. Vì cây trám đã được nuôi dưỡng bằng tính mạng con người, trong đó có người bố tội nghiệp của tôi. Quả của nó cứ để nó rụng về với đất mẹ. Quả của nó để mặc người làng nhặt về làm xôi bà cũng không nói lời nào. Mùa trám này bà tôi đã bước qua tuổi chín mươi. Mỗi lần nhìn thấy những quả trám chín bà lại nhớ đến bố tôi. Những giọt nước mắt tự nhiên trào ra. Nhìn bà thật khắc khổ, tôi quý, thương bà lắm.
Cánh đồng lúa đã ngả sang màu vàng óng ả. Từ trên cây trám thần ngàn năm cao vút vẫn không dứt tiếng kêu của loài chim có bộ lông mượt đen huyền bí. Tiếng hót lảnh lót của chúng vang xa nhưng người nghe lại thấy buồn rầu khắc khoải. Hình như đó không phải là tiếng chim mà là tiếng người.
