Những năm gần đây, bên cạnh quản lý, bảo vệ rừng, Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã triển khai nhiều mô hình phát triển dược liệu trong cộng đồng. Nấm linh chi, sâm Việt Nam và một số cây thuốc bản địa được nhân giống, chuyển giao kỹ thuật trồng tại các hộ dân “vùng đệm”. Qua đó, người dân có điều kiện phát triển sản xuất ngay tại vườn nhà, thay vì phụ thuộc vào nguồn dược liệu khai thác trong tự nhiên.
Gia đình ông Lò Văn Dương ở thôn Tả Van Dáy, xã Tả Van là 1 trong 200 hộ tham gia mô hình. Gia đình được hỗ trợ 500 bịch nấm linh chi cùng quy trình kỹ thuật chăm sóc. Mỗi năm, nấm cho thu hoạch 2 đợt, sản lượng bình quân khoảng 100 kg/đợt. Sản phẩm được hỗ trợ kết nối tiêu thụ với giá khoảng 300.000 đồng/kg.
Ông Dương chia sẻ: “Được hỗ trợ giống và hướng dẫn kỹ thuật giúp gia đình tôi yên tâm phát triển. Ngoài ra, việc trồng nấm không đòi hỏi nhiều đất sản xuất, phù hợp với điều kiện của gia đình và tạo thêm nguồn thu nhập”.
Hiệu quả của mô hình không chỉ phụ thuộc vào nguồn giống mà còn ở khả năng làm chủ kỹ thuật của người dân. Vì vậy, Vườn Quốc gia Hoàng Liên tổ chức tập huấn trước khi bàn giao giống; cán bộ chuyên môn thường xuyên xuống cơ sở kiểm tra, hướng dẫn từng khâu sản xuất.
Ông Nguyễn Văn Sang - chuyên viên Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Vườn Quốc gia Hoàng Liên cho biết: “Chúng tôi xây dựng tài liệu hướng dẫn, tổ chức tập huấn theo hình thức “cầm tay chỉ việc” và chỉ bàn giao giống khi người dân biết được quy trình. Mục tiêu là giúp người dân nâng cao sinh kế và giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng. Cách làm này khắc phục tình trạng hỗ trợ giống nhưng thiếu hướng dẫn kỹ thuật, dẫn đến mô hình khó duy trì. Hộ tham gia được lựa chọn phù hợp với điều kiện sản xuất. Quá trình hỗ trợ gắn với trách nhiệm của người dân trong chăm sóc, bảo vệ và nhân rộng nguồn giống”.
Từ những kết quả bước đầu đạt được, Vườn Quốc gia Hoàng Liên xác định tiếp tục mở rộng, phát triển theo hướng tập trung, bền vững. Đơn vị đang từng bước hình thành vùng sản xuất dược liệu, tăng cường liên kết giữa các hộ dân, đồng thời xây dựng chuỗi tiêu thụ ổn định cho sản phẩm. Khi đủ điều kiện, các tổ hợp tác, hợp tác xã sẽ được củng cố, phát huy vai trò là đầu mối tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và kết nối thị trường.
Theo ông Vũ Đức Quyền - Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Hoàng Liên, phát triển sinh kế cho người dân “vùng đệm” là nhiệm vụ gắn liền với công tác bảo tồn. Trong đó, dược liệu là lợi thế cần được khai thác hợp lý.
Điều quan trọng là thay đổi tư duy khai thác dược liệu. Thay vì vào rừng tìm cây thuốc, người dân có thể gây trồng ngay tại vườn nhà. Khi có sinh kế ổn định, người dân sẽ giảm phụ thuộc vào tài nguyên tự nhiên và tích cực hơn trong bảo vệ rừng.
Sự chuyển đổi từ khai thác tự nhiên sang chủ động phát triển trồng dược liệu có ý nghĩa trực tiếp đối với công tác bảo tồn. Nguồn dược liệu dưới tán rừng được giảm áp lực khai thác; trong khi người dân vẫn có thể phát huy tri thức bản địa, tận dụng điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng để phát triển sản xuất. Lợi ích kinh tế và trách nhiệm bảo vệ rừng vì thế được đặt trong cùng một mối quan hệ.
Tuy nhiên, theo lãnh đạo Vườn Quốc gia Hoàng Liên, để các mô hình phát triển bền vững, còn nhiều vấn đề phải giải quyết. Sản xuất dược liệu đòi hỏi nguồn giống bảo đảm chất lượng, quy trình chăm sóc nghiêm ngặt và thời gian đầu tư dài. Thị trường tiêu thụ cũng cần được tổ chức ổn định, tránh tình trạng mở rộng diện tích khi chưa có đầu ra. Việc xây dựng thương hiệu, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc phải được tính toán ngay từ đầu.
Ông Vũ Đức Quyền cho biết thêm: “Thực tế cho thấy, hỗ trợ sinh kế chỉ phát huy hiệu quả khi người dân thực sự làm chủ mô hình. Vì vậy, cùng với nguồn giống và kỹ thuật, thời gian tới, chúng tôi sẽ tăng cường liên kết sản xuất, nâng cao năng lực tổ chức của cộng đồng và xác định rõ trách nhiệm của từng hộ tham gia. Đây là điều kiện để những mô hình ban đầu phát triển thành hướng sản xuất ổn định, tạo nền tảng để cộng đồng tham gia bảo vệ rừng bền vững”.