Bảo đảm chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Theo chương trình kỳ họp thứ 5, chiều 21/6, các đại biểu Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, tiếp tục thảo luận về dự án Luật Đất đai (sửa đổi). Nội dung được nhiều đại biểu quan tâm, tập trung cho ý kiến là chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Đoàn Hội đồng nhân dân các tỉnh Hải Dương, Điện Biên dự phiên họp.

Chính sách phải tổng thể, toàn diện

Đại biểu Ngô Trung Thành (Đắk Lắk) nhấn mạnh, đất ở, đất sản xuất có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống của đồng bào dân tộc. Do đó, việc sửa đổi Luật Đất đai lần này phải góp phần bảo đảm để các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các hộ khó khăn có đất sản xuất, đất ở như mục tiêu Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đã đề ra (Nghị quyết 18).

Tuy nhiên, qua nghiên cứu dự thảo Luật, đối chiếu với Nghị quyết 18, Hiến pháp 2013 và yêu cầu thực tiễn, đại biểu cho rằng, dự thảo Luật vẫn còn một số vấn đề lớn. Cụ thể, quy định của dự thảo Luật chưa toàn diện, chưa thể chế hóa đầy đủ nội dung Nghị quyết 18. Về đối tượng, Nghị quyết 18 đề ra mục tiêu giải quyết cơ bản tồn tại, vướng mắc liên quan đến đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung. Tuy nhiên, dự thảo Luật chỉ tập trung giải quyết cho đồng bào dân tộc thiểu số thuộc địa bàn điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, như vậy là hẹp hơn so với Nghị quyết 18.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 18 yêu cầu cần có chính sách ưu đãi về thuế nhưng dự thảo Luật chưa quy định rõ nội dung này.

Về quản lý sử dụng đất nông nghiệp, Nghị quyết 18 nêu cần có cơ chế hiệu quả để ngăn chặn người dân chuyển nhượng sau khi được giao đất. Thực tế thời gian qua cho thấy, do trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số không đồng đều, một bộ phận hiểu biết pháp luật và xã hội còn hạn chế hoặc do bị lợi dụng dẫn đến không còn đất sản xuất, thiếu đất ở.

Quy định về vấn đề này, Khoản 1 Điều 49 dự thảo Luật dựa trên cơ sở luật hóa các quy định hiện hành, nhưng lại "lỏng" hơn so với quy định hiện hành. Cụ thể, Nghị định của Chính phủ quy định, sau 10 năm mới được chuyển nhượng và phải kèm theo điều kiện có xác nhận không có nhu cầu sử dụng đất hoặc chuyển khỏi địa bàn cư trú. Tuy nhiên, dự thảo Luật quy định sau 10 năm, trừ trường hợp được xác nhận.

"Điều này có nghĩa là nếu có xác nhận không có nhu cầu sử dụng đất hoặc chuyển khỏi địa bàn cư trú thì mặc dù chưa đến 10 năm sẽ vẫn được chuyển nhượng. Quy định như vậy quá "lỏng", dễ dẫn đến tình trạng thâu tóm đất đai, không đáp ứng yêu cầu Nghị quyết 18", đại biểu Ngô Trung Thành chỉ rõ.

Ngoài ra, việc dự thảo Luật để Thủ tướng Chính phủ quy định khung chính sách về hỗ trợ đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số là chưa hoàn toàn phù hợp. Theo đại biểu, vấn đề này phải thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của Quốc hội.

Từ những phân tích trên, đại biểu Ngô Trung Thành đề nghị, chính sách đất đai phải được áp dụng đối với tất cả đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất hoặc đất ở như mục tiêu đề ra tại Nghị quyết 18 để không ai bị bỏ lại phía sau. Bên cạnh đó, chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số phải là chính sách tổng thể, toàn diện; cần quy định trách nhiệm của Nhà nước, những ưu đãi, hỗ trợ cụ thể cho đồng bào; nghĩa vụ, trách nhiệm của đồng bào đối với Nhà nước, đối với đất đai được giao. Dự thảo Luật cần có quy định thu hồi đất của các nông, lâm trường hoạt động kém hiệu quả để giao lại cho các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số đang thiếu đất sản xuất tại địa phương.

Liên quan đến trách nhiệm của Nhà nước về đất đai với đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu Nguyễn Lâm Thành (Thái Nguyên) đề nghị quy định chính sách áp dụng cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi cho phù hợp, đúng theo tinh thần Kết luận của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quốc hội, thay vì chỉ giới hạn trong phạm vi địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Đại biểu phân tích, đồng bào dân tộc thiểu số hiện cư trú ở trên 5.200 xã, trong khi vùng đặc biệt khó khăn chỉ có 1.500 xã. Các xã đặc biệt khó khăn hiện đang giảm hàng năm, trong khi thực tế đây vẫn là vùng khó khăn, diện đồng bào thiếu đất nằm ở cả các xã khu vực 1, khu vực 2 và các xã về đích nông thôn mới.

Bên cạnh đó, diện các xã đặc biệt khó khăn thay đổi theo từng năm và từng giai đoạn, có ra, có vào theo các tiêu chí quy định, nhất là về chuẩn nghèo, dẫn đến sự bất cập trong áp dụng chính sách.

Đáng chú ý, vùng đặc biệt khó khăn, phần lớn không còn có đất hoặc rất ít quỹ đất. Do vậy, việc cấp đất, giao đất cho người dân nhiều nơi là bất khả thi và cần có giải pháp phù hợp.

Có chính sách tài chính đất đai phù hợp với hộ nghèo

Đại biểu Quốc hội tỉnh Kon Tum Nàng Xô Vi phát biểu ý kiến.

Đại biểu Nàng Xô Vi (Kon Tum) đánh giá, đây là dự án Luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến người dân, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Dự thảo Luật cần quy định rõ về đảm bảo có đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, có chính sách ưu tiên, chính sách tài chính đối với hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số...

Nhằm thể chế hóa nội dung, có chính sách phù hợp để ưu tiên giao đất cho đồng bào dân tộc thiếu đất sản xuất, chính sách tài chính về đất đai phù hợp đối với hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu Nàng Xô Vi đề nghị sửa đổi Khoản 1, Khoản 2, Điều 17 dự thảo Luật liên quan đến trách nhiệm của Nhà nước về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Việc sửa đổi theo hướng mở rộng đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được Nhà nước bảo đảm về đất ở, đất sản xuất... phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng.

Ngoài các chính sách hiện hành, đại biểu Nàng Xô Vi cho rằng, cần tạo thêm quỹ đất từ diện tích thực tế đang có của các địa phương và sử dụng đất để giải quyết nhu cầu sản xuất của các hộ gia đình đang thiếu đất sản xuất, trong đó tập trung vào quỹ đất nông nghiệp do xã, cộng đồng dân cư quản lý; đặc biệt là diện tích do các nông, lâm trường đã bàn giao về cho địa phương quản lý.

Theo đại biểu Lý Thị Lan (Hà Giang), việc quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường còn nhiều hạn chế, bất cập. Các công ty nông, lâm nghiệp không thực hiện sản xuất hoặc sản xuất kém hiệu quả để đất đai lãng phí, bị lấn chiếm. Trong khi đó, đất nông, lâm trường thường là những nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sống xung quanh. Đồng bào dân tộc thiểu số có tập quán ở đâu thì sản xuất ở đó. Tuy nhiên, hiện nay, họ rất thiếu đất sản xuất.

Đại biểu đề nghị cần bổ sung quy định vào Điều 79 dự thảo Luật về nội dung thu hồi đất nông, lâm trường, kể cả đất đã giao, cho thuê, nhưng các đơn vị không thực hiện sản xuất, sử dụng đất không hiệu quả, không đúng mục đích và phải thu hồi đất có khả năng canh tác để giao cho đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, cận nghèo sống ở khu vực có đất nông, lâm trường để canh tác, góp phần tạo sinh kế cho người dân.

Theo Báo Tin tức

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Phải tạo một cuộc đổi mới thực chất từ bên trong ngành Giáo dục

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Phải tạo một cuộc đổi mới thực chất từ bên trong ngành Giáo dục

Sáng 25/8, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với các cơ quan liên quan về đánh giá kết quả 1 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Bài cuối: Dân vận trong thời đại số - những "cánh cửa" mới từ cơ sở

Từ sự đồng thuận đến khát vọng phát triển: Bài cuối: Dân vận trong thời đại số - những "cánh cửa" mới từ cơ sở

Khi công nghệ số ngày càng hiện diện trong đời sống, công tác dân vận không còn là gặp dân, nghe dân, vận động dân trực tiếp, mà còn là kết nối, đồng hành cùng người dân trên môi trường số. Nhiều cách làm mới từ cơ sở đang mở thêm những "cánh cửa" để ý Đảng đến gần hơn với lòng dân.

Bài 2: Vun đắp niềm tin, lan tỏa những phong trào mới

Từ đồng thuận đến khát vọng phát triển: Bài 2: Vun đắp niềm tin, lan tỏa những phong trào mới

Có những việc tưởng rất khó thay đổi, đó là tập quán canh tác đã tồn tại nhiều đời, là những hủ tục ăn sâu trong nếp nghĩ, là sự dè dặt trước những mô hình sản xuất mới hay những băn khoăn khi phải hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích cộng đồng. Nhưng chính từ những việc khó ấy, công tác dân vận đã chứng minh sức mạnh của mình. Khi cán bộ, đảng viên và người có uy tín đi trước, làm trước, sức dân được khơi dậy, niềm tin được vun đắp và những phong trào mới bắt đầu lan tỏa.

Bài 1: Cùng bàn, cùng làm với dân

Từ đồng thuận đến khát vọng phát triển: Bài 1: Cùng bàn, cùng làm với dân

Công tác dân vận ở Lào Cai được bắt đầu từ những cuộc đối thoại, những việc làm cùng chung sức. Khi người dân thực sự được biết, được bàn, được làm và được hưởng lợi, dân vận không chỉ tạo nên sự đồng thuận mà còn khơi dậy khát vọng phát triển từ mỗi cộng đồng.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Dương Quốc Huy chỉ đạo giải quyết dứt điểm 2 vụ việc liên quan đến quyền lợi của công dân

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Dương Quốc Huy chỉ đạo giải quyết dứt điểm 2 vụ việc liên quan đến quyền lợi của công dân

Sáng 25/8, tại Trụ sở tiếp công dân tỉnh, đồng chí Dương Quốc Huy - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy đã có buổi tiếp công dân, có chỉ đạo các cấp, ngành chức năng sớm giải quyết dứt điểm 2 vụ việc liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Thường trực Tỉnh ủy kiểm tra, khảo sát tại Khu Di tích quốc gia Đền Bảo Hà, xã Bảo Hà

Thường trực Tỉnh ủy kiểm tra, khảo sát tại Khu Di tích quốc gia Đền Bảo Hà, xã Bảo Hà

Chiều 24/8, Trong khuôn khổ Tuần Văn hóa - Du lịch Lễ hội Đền Bảo Hà năm 2026, Thường trực Tỉnh ủy Lào Cai đã kiểm tra, khảo sát tại Khu Di tích quốc gia Đền Bảo Hà, xã Bảo Hà; tham gia các hoạt động phát huy giá trị di sản, đổi mới phương thức quảng bá, phục vụ người dân và du khách.

Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư đường Vành đai 5, điều chỉnh chủ trương đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư đường Vành đai 5, điều chỉnh chủ trương đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Sáng 24/8, Quốc hội đã thông qua nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội và nghị quyết về điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước

Sáng 24/8, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Đoàn đại biểu tỉnh Vân Nam nhập cảnh qua Cửa khẩu quốc tế Lào Cai tham dự Hội nghị hợp tác hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

Đoàn đại biểu tỉnh Vân Nam nhập cảnh qua Cửa khẩu quốc tế Lào Cai tham dự Hội nghị hợp tác hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

Sáng 24/8, tại Cửa khẩu quốc tế Lào Cai, Đoàn đại biểu tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), do đồng chí Lưu Hồng Kiến - Phó Bí thư Tỉnh ủy Vân Nam làm Trưởng đoàn, đã nhập cảnh vào Việt Nam, bắt đầu chuyến tham gia các hoạt động đối ngoại tại tỉnh Lào Cai.

Dưới cờ Đảng – “Bản Dao" hạnh phúc

Dưới cờ Đảng – “Bản Dao" hạnh phúc

Là thôn cao nhất của xã Tằng Loỏng, tỉnh Lào Cai - thôn Trát với 100% đồng bào Dao đỏ sinh sống từng được biết đến bởi cái nghèo gắn liền với những triền dốc và làn mây mù giăng phủ quanh năm. Nhưng hôm nay, trên vùng đất khó khăn ấy đã bừng lên sức sống mới với những đổi thay bất ngờ. Thành quả ấy có được là nhờ niềm tin từ “cờ búa liềm” dẫn lối đồng bào Dao vươn lên xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

“6 rõ” để mọi việc được giải quyết đến cùng

“6 rõ” để mọi việc được giải quyết đến cùng

Tinh thần “6 rõ” đang được các địa phương trên địa bàn tỉnh Lào Cai cụ thể hóa trong từng nhiệm vụ, từng quy trình xử lý công việc. Điều quan trọng nhất được đặt ra không còn là “đã giao việc”, mà là công việc có được giải quyết đến cùng, đúng hạn và tạo ra kết quả thực chất hay không.

fb yt zl tw