Phát biểu tại hội nghị Chính phủ với các địa phương, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định đất nước ta đã hội tụ đủ thế và lực, đủ ý chí quyết tâm để bước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.
Đây không chỉ là nhận định mang tính chất khích lệ mà là kết luận được kết tinh từ thực tiễn phát triển của đất nước sau 40 năm Đổi mới. Đặt trong bối cảnh lịch sử và hiện tại, chúng ta có thể thấy nhận định này hoàn toàn có cơ sở, phản ánh đúng quy mô, vị thế và tiềm lực phát triển của đất nước ta.
Thế và lực mới sau 40 năm Đổi mới
Sau 40 năm Đổi mới (1986-2026), vị thế và không gian phát triển của đất nước ta đã rộng mở. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, Việt Nam đã từng bước chuyển mạnh mẽ, trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Việc tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007 đánh dấu bước ngoặt quan trọng, đưa Việt Nam bước vào sân chơi lớn với những chuẩn mực quốc tế về thể chế, cạnh tranh và minh bạch. Rồi việc ký kết và thực thi hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) không chỉ mở rộng thị trường xuất khẩu, mà còn giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận các chuỗi cung ứng toàn cầu, giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bên cạnh đó, Việt Nam có quan hệ kinh tế thương mại với trên 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, phủ rộng các châu lục, mở ra nhiều thị trường, đối tác hấp dẫn, tiềm năng, thiết thực đóng góp vào vị thế quốc tế và tăng trưởng của nền kinh tế.
Song hành với thế là sự lớn mạnh nội lực kinh tế - xã hội của đất nước. Nếu như vào thời điểm Đổi mới, quy mô kinh tế của Việt Nam chỉ ở mức vài tỷ USD thì đến nay quy mô nền kinh tế vượt 514 tỷ USD, đứng vào nhóm đầu Đông Nam Á. Thu nhập bình quân đầu người từ mức dưới 100 USD/năm lên khoảng 5.026 USD/năm, phản ánh không chỉ sự tăng trưởng về lượng, mà còn là sự cải thiện căn bản về chất lượng đời sống nhân dân.
Điều đáng nói, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nhiều năm qua diễn ra trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, nhiều chuỗi cung ứng đứt gãy. Trong giai đoạn 2016-2019, tăng trưởng GDP bình quân đạt khoảng 6,8%/năm. Ngay cả trong thời kỳ đại dịch Covid-19, khi kinh tế toàn cầu suy giảm sâu, Việt Nam vẫn duy trì được tăng trưởng dương và phục hồi nhanh sau dịch, với mức tăng 8,02% năm 2022.
Những con số này không chỉ phản ánh tốc độ tăng trưởng, mà cho thấy nội lực và khả năng chống chịu của nền kinh tế để có thể bước vào một giai đoạn phát triển mới cao hơn.
Ở một góc nhìn khác, chúng ta cũng nhận lấy nguồn lực mạnh mẽ của đất nước, đó là khả năng tự cân đối và huy động nguồn lực cho phát triển. Đó là các nguồn lực dành cho đầu tư công, hạ tầng giao thông, các chương trình xã hội, xóa đói giảm nghèo…
Giai đoạn 2020-2025, hàng nghìn tỷ đồng đã được huy động đầu tư, với tinh thần làm việc “vượt nắng, thắng mưa”… hạ tầng giao thông có bước đột phá lịch sử với việc hoàn thành 3.245km đường bộ cao tốc (vượt mục tiêu 3.000 km) và 1.711 km đường ven biển (vượt mục tiêu 1.700 km) vào cuối năm 2025. Hoàn thành các đường dây 500kV trong thời gian kỷ lục. Đang tích cực chuẩn bị đầu tư các dự án chiến lược quốc gia như điện hạt nhân Ninh Thuận, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng, cơ bản hoàn thành Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1.
Cùng với đó, với hơn 100 triệu dân, Việt Nam được đánh giá là một thị trường tiêu thụ hấp dẫn, đồng thời là thị trường cung cấp lực lượng lao động.
Quan trọng hơn, sau nhiều năm Đổi mới, chúng ta có thể thấy sự chủ động của lãnh đạo tỉnh, bộ ngành về tư duy phát triển. Từ chỗ trông chờ, ỷ lại thì nay chủ động, sáng tạo, hội nhập và cạnh tranh. Điều này có thể thấy rõ nét qua việc các tỉnh thành kêu gọi thu hút đầu tư, cải cách thủ tục hành chính… Đây là nền tảng rất quan trọng, tạo nên sức mạnh mềm cho phát triển quốc gia.
Đột phá thể chế, khơi thông động lực phát triển
Trong một thời gian dài, Đảng ta đã đề cập và yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, khắc phục tình trạng cồng kềnh, chồng chéo. Đây chính là tiền đề, cơ sở để nâng cao quản trị quốc gia, tạo động lực để đất nước tiến nhanh hơn trong kỷ nguyên mới. Cuộc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị không chỉ nhằm giảm đầu mối hay biên chế, mà hướng tới mục tiêu căn bản hơn: nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Việc chuyển từ tư duy “quản lý” sang tư duy “kiến tạo, phục vụ” đánh dấu bước chuyển có tính chất nền tảng trong nhận thức và hành động của bộ máy công quyền.
Việc tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị chính là tiền đề, cơ sở để nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.
Khi bộ máy được tinh gọn, phân định rõ chức năng, trách nhiệm, và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, thì các nguồn lực xã hội mới được khơi thông và sử dụng hiệu quả. Đây chính là điều kiện thể chế quan trọng để biến “thế” và “lực” thành kết quả phát triển thực chất.
Cùng với đó, các quyết sách chiến lược được xác định trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV cho thấy đất nước đã chuẩn bị đầy đủ về tư duy và lộ trình phát triển. Mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao không chỉ là khát vọng, mà được đặt trên nền tảng các động lực mới như khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và phát triển bền vững... Điều này cho thấy tư duy phát triển đã chuyển từ “theo kịp” sang “bứt phá”, từ tích lũy đơn thuần sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng.
Để hiện thực hoá các mục tiêu, Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng đã xác định 12 định hướng lớn; 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược. Chương trình hành động đã được cụ thể hoá các nhiệm vụ có thể triển khai thực hiện ngay. Tinh thần cốt lõi được cô đọng trong 8 nội dung quan trọng, thể hiện rõ yêu cầu: Lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả. Cùng với đó, chúng ta nhận thấy tư tưởng xuyên suốt của văn kiện nổi bật lên tinh thần hành động, các quyết sách được đưa ra phải dựa trên tinh thần lấy dân làm gốc, nói ít - làm nhiều – làm đến cùng…
Với thế và lực của đất nước, cùng ý chí và quyết tâm chính trị cao, chúng ta tin tưởng đất nước sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, vì mục tiêu ấm no, hạnh phúc của nhân dân.