Giữa lúc nhiều bạn trẻ rời quê tìm cơ hội lập nghiệp, anh Lê Tứ Hải, thôn Tiến Minh, xã Bảo Ái chọn ở lại với đất đồi rừng của gia đình. Từ những cây lâm nghiệp đầu tiên, anh từng bước mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư chế biến gỗ, xây dựng mô hình kinh tế hiệu quả, tạo việc làm cho lao động địa phương.
Hiện, gia đình anh Hải có 70 ha rừng trồng, chủ yếu là keo, quế và gù hương. Với mỗi loại cây, anh chú trọng lựa chọn giống phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng, áp dụng kỹ thuật trồng và chăm sóc để nâng cao năng suất, chất lượng.
Cùng với phát triển rừng, anh đầu tư xưởng sản xuất ván bóc và xưởng mộc, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Mô hình kinh tế lâm nghiệp kết hợp sản xuất, kinh doanh mang lại doanh thu gần 2 tỷ đồng mỗi năm cho gia đình.
Mô hình trồng và chế biến gỗ rừng trồng giúp gia đình tôi có kinh tế ổn định, tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương, anh Hải chia sẻ.
Ở phía Tây hồ Thác Bà, xã Bảo Ái có hơn 8.600 ha rừng, trong đó hơn 7.000 ha rừng trồng; hơn 2.600 ha đã được cấp mã số vùng trồng. Lợi thế đất đồi rừng cùng kinh nghiệm sản xuất của người dân tạo điều kiện thuận lợi để địa phương phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng nâng cao giá trị.
Theo ông Nguyễn Lê Dũng - Bí thư Đảng ủy xã Bảo Ái, phát triển kinh tế đồi rừng được Đảng bộ xã xác định là một trong những chương trình trọng tâm trong nhiệm kỳ 2025 - 2030. Xã tập trung phát triển rừng gỗ lớn, mở rộng diện tích cây quế ở những khu vực phù hợp.
Trong nhiệm kỳ, Bảo Ái dự kiến trồng từ 150 - 200 ha quế, thu hút 1 - 2 doanh nghiệp chế biến sản phẩm từ quế. Cùng với đó, xã khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu để nâng cao giá trị rừng trồng, tạo thêm sản phẩm hàng hóa và việc làm.
Tại xã Thác Bà, nguồn nguyên liệu dồi dào cùng kinh nghiệm của người dân tạo điều kiện phát triển các cơ sở chế biến gỗ phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Từ chỗ bán gỗ nguyên liệu, sản xuất ván bóc, một số cơ sở đã đầu tư máy móc để sản xuất các sản phẩm có yêu cầu kỹ thuật cao hơn.
Công ty TNHH Flywood C&C là một trong những đơn vị lựa chọn hướng đi này. Từng trực tiếp trồng, chăm sóc rừng rồi chuyển sang sản xuất ván bóc, ông Đỗ Cao Cường - Phó Giám đốc công ty nhận thấy nguồn nguyên liệu tại địa phương còn nhiều tiềm năng nên quyết định đầu tư nhà xưởng, máy móc để sản xuất ván ép phủ phim, chủ yếu phục vụ ngành xây dựng và hướng đến xuất khẩu.
"Là người nông dân, trước kia, tôi cũng trồng và chăm sóc rừng. Sau đó, tôi chuyển sang bóc gỗ nhưng nhận thấy chưa khai thác hết tiềm năng, thế mạnh lâm nghiệp tại địa phương nên tôi mở xưởng chế biến gỗ và xây dựng nhà máy sản xuất ván ép phủ phim hướng đến xuất khẩu ra thị trường nước ngoài”, ông Đỗ Cao Cường - Phó Giám đốc Công ty TNHH Flywood C&C chia sẻ.
Với hệ thống máy cắt, máy ép cùng các thiết bị phục vụ sản xuất, mỗi năm công ty chế biến khoảng 6.000 m³ gỗ, mang lại lợi nhuận hàng tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng 40 lao động địa phương.
Việc đầu tư chế biến giúp doanh nghiệp đa dạng hóa sản phẩm, đồng thời góp phần tiêu thụ gỗ rừng trồng trong vùng.
Theo ông Cường, để duy trì đầu ra, doanh nghiệp phải chú trọng chất lượng ngay từ khâu nguyên liệu. Gỗ đưa vào sản xuất cần có nguồn gốc rõ ràng, đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Trong đó, nguồn gỗ có chứng chỉ FSC là điều kiện thuận lợi để tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao.
Hiện, xã Thác Bà có 5.700 ha cây lâm nghiệp, sản lượng khai thác đạt hơn 65.000 m³/năm. Nguồn nguyên liệu này là cơ sở để phát triển chế biến, đồng thời đặt ra yêu cầu gắn kết chặt chẽ hơn giữa doanh nghiệp và người trồng rừng.
Nắm được nhu cầu của cơ sở sản xuất, người dân có thể chủ động lựa chọn giống, chăm sóc và tính toán thời điểm khai thác phù hợp, từng bước nâng cao chất lượng gỗ.
Cùng với keo, quế và gù hương, tre măng Bát độ đang góp phần phát huy giá trị đất đồi, tạo nguồn nguyên liệu cho chế biến tại vùng hồ. Khác với cây lấy gỗ phải chờ nhiều năm mới khai thác, tre măng sau thời gian ngắn có thể cho thu hoạch hằng năm, giúp người dân có thêm nguồn thu để trang trải cuộc sống và đầu tư sản xuất.
Tại thôn Phú Mỹ, xã Yên Thành, gia đình ông Trần Phúc Dân có gần 8 ha tre măng Bát độ, trong đó hơn 4 ha đã cho thu hoạch. Nhờ phù hợp với đất đai, khí hậu và được chăm sóc đúng kỹ thuật, diện tích tre phát triển tốt, mang lại thu nhập bình quân khoảng 200 triệu đồng/năm. Riêng vụ măng năm nay, gia đình ông dự kiến thu gần 300 triệu đồng.
Ông Dân cho biết, cây tre măng Bát độ đã giúp gia đình cải thiện cuộc sống. Có nguồn thu và đầu ra tương đối ổn định, gia đình ông tiếp tục chăm sóc diện tích đang khai thác, đồng thời đầu tư cho những diện tích chưa đến kỳ thu hoạch.
Hiện, các xã Cảm Nhân, Yên Thành, Thác Bà, Yên Bình và Bảo Ái có hơn 400 ha tre măng Bát độ, gồm cả diện tích trồng mới và đang khai thác, với tổng sản lượng ước đạt hơn 5.000 tấn/năm.
Công ty Cổ phần Yên Thành tham gia thu mua, chế biến, xuất khẩu sản phẩm, góp phần kết nối vùng nguyên liệu với thị trường. Hoạt động trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến măng tạo việc làm cho khoảng 200 lao động, với thu nhập bình quân từ 7 - 8 triệu đồng/người/tháng.
Ông Nguyễn Đức Dũng - Giám đốc Công ty Cổ phần Yên Thành cho biết, doanh nghiệp chủ động phối hợp với chính quyền các địa phương phát triển vùng trồng, hỗ trợ cây giống, tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn người dân chăm sóc, khai thác và tổ chức thu mua đều đặn. Các hợp tác xã vệ tinh tham gia thu mua, sơ chế măng cũng góp phần tạo thêm việc làm cho người dân.
Từ các hộ trồng rừng đến những cơ sở chế biến gỗ, măng tre, mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ đang giúp vùng hồ Thác Bà khai thác hiệu quả hơn lợi thế của mình. Giá trị thu được thể hiện ở nguồn thu từ bán gỗ, thu hoạch măng và những việc làm được tạo ra ngay tại địa phương.
Để phát huy hiệu quả kinh tế rừng trồng, việc phát triển vùng nguyên liệu cần đi đôi với nâng cao chất lượng giống, hướng dẫn kỹ thuật, quản lý rừng bền vững và khai thác hợp lý. Đồng thời, cần tăng cường liên kết với doanh nghiệp, khuyến khích chế biến sâu, bảo đảm môi trường trong sản xuất.
Những quả đồi, hòn đảo trên hồ Thác Bà hôm nay đang mang lại sinh kế cho người dân. Từ trồng keo, bồ đề, bạch đàn, quế, tre măng đến chế biến ván bóc, ván ép và các sản phẩm từ gỗ, người dân có thêm việc làm, thu nhập ngay tại quê hương. Khi người trồng rừng có thu nhập, doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu ổn định, kinh tế rừng sẽ tiếp tục tạo động lực phát triển cho các xã vùng hồ Thác Bà, giúp nhiều người trẻ yên tâm gắn bó với quê hương.