Giai đoạn 2021 - 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm bình quân gần 4%/năm (giảm 61.716 hộ nghèo), vượt so với chỉ tiêu Chính phủ giao (giảm 3,5%/năm); tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 6,99%/năm, vượt so với chỉ tiêu Chính phủ giao (giảm 6%/năm) ; đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm còn 5,5%.
Đáng chú ý, giảm nghèo được triển khai đồng bộ trên nhiều chiều: thu nhập, nhà ở, giáo dục, y tế, nước sạch, tiếp cận thông tin… Qua đó hình thành nền tảng an sinh tương đối toàn diện, hạn chế tái nghèo và nghèo phát sinh.
Bước vào giai đoạn thực hiện Đề án 15 về giảm nghèo đa chiều và bảo đảm an sinh xã hội giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều bình quân 2,5 - 3%/năm; phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 30% số xã nghèo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn. Trọng tâm không chỉ là giảm số lượng hộ nghèo mà nâng cao chất lượng giảm nghèo, thu hẹp chênh lệch mức sống giữa các vùng.
Tại xã Nậm Có - địa bàn còn nhiều khó khăn do địa hình chia cắt, thiên tai thường xuyên, cách tiếp cận giảm nghèo được xác định theo thứ tự ưu tiên: ổn định chỗ ở, củng cố sinh kế, nâng cao thu nhập.
Năm 2025, xã có 157 hộ được hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở với tổng kinh phí hơn 17 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước, nguồn xã hội hóa và phần đối ứng của người dân. Hỗ trợ nhà ở không chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng “an cư” để người dân yên tâm phát triển kinh tế.
Ông Trang A Dình, thôn Có Mông chia sẻ: “Trước đây, mỗi mùa mưa lũ, gia đình tôi lại thấp thỏm. Từ khi có nhà mới, tôi đã đầu tư nuôi thêm trâu, bò để tăng thu nhập. Có nhà ổn định thì mới dám tính chuyện làm ăn lâu dài”.
Trên nền tảng đó, xã tập trung phát triển sinh kế phù hợp điều kiện tự nhiên. Năm 2025, xã Nậm Có đã tiếp nhận và phân bổ 82 con trâu, 93 con bò và 12 con ngựa từ các chương trình hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo và mới thoát nghèo; đồng thời triển khai thử nghiệm trồng lê VH6 với diện tích 8,7 ha.
Cùng đó, với tổng diện tích hơn 10.000 ha rừng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng đã mang lại nguồn thu ổn định hằng năm cho nhiều hộ dân, tạo thêm vốn tái đầu tư sản xuất và trang trải cuộc sống. Năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo của xã Nậm Có giảm từ 57% xuống còn 43% (giảm 150 hộ); thu nhập bình quân đầu người đạt trên 28,8 triệu đồng/năm.
Nếu Nậm Có đặt trọng tâm vào “an cư” để tạo nền tảng, thì tại xã Phình Hồ, công tác giảm nghèo được triển khai theo hướng nâng cao giá trị nông sản chủ lực.
Địa phương có hơn 300 ha chè, trong đó trên 100 ha chè Shan tuyết cổ thụ – lợi thế đặc thù hiếm có. Thay vì mở rộng diện tích, xã tập trung nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và liên kết tiêu thụ.
Trung bình mỗi năm, Phình Hồ thu khoảng 500 tấn chè thành phẩm, tạo nguồn thu ổn định cho nhiều hộ gia đình.
Bên cạnh chè Shan tuyết cổ thụ, khoai sọ nương cũng trở thành cây trồng chủ lực ở Phình Hồ, giúp nhiều hộ thoát nghèo. Hiện, toàn xã có gần 330 ha khoai sọ, năng suất đạt gần 138 tạ/ha, sản lượng 4.580 tấn, mang lại nguồn thu hàng tỷ đồng mỗi năm cho người dân.
Đồng chí Nguyễn Thành Hưng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Phình Hồ cho biết: “Muốn giảm nghèo bền vững phải tổ chức lại sản xuất, xây dựng chuỗi giá trị, gắn sản xuất với thị trường. Năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của xã giảm 6,82% so với năm trước.
Tại xã Lâm Thượng, lợi thế bản địa được khai thác theo hướng chuẩn hóa và xây dựng thương hiệu. Giống vịt bầu địa phương được bảo tồn nguồn gen, phát triển thành sản phẩm OCOP; mô hình nuôi ốc nhồi được mở rộng với 60 hộ tham gia.
Là một trong những hộ đi đầu nuôi ốc nhồi ở xã Lâm Thượng, anh Hoàng Văn Vượt, thôn Sơn Bắc đã đầu tư hơn 1.000 m² ao nuôi ốc, mỗi năm thu lãi trên 100 triệu đồng.
Anh Vượt cho biết: “Được tập huấn kỹ thuật và hỗ trợ kết nối tiêu thụ nên đầu ra ổn định, gia đình tôi yên tâm mở rộng quy mô”.
Đồng chí Trần Quốc Tuấn - Chủ tịch UBND xã Lâm Thượng khẳng định: “Giảm nghèo phải gắn với nâng cao năng lực sản xuất và kiểm soát rủi ro. Khi sản phẩm có thương hiệu, có thị trường, người dân mới thực sự thoát nghèo bền vững”.
Đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo của xã Lâm Thượng giảm còn 2,12%.
Từ thực tiễn các địa phương cho thấy, giảm nghèo đa chiều ở Lào Cai đang được triển khai rõ ràng, bài bản: đầu tư hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ nhà ở; phát triển sinh kế phù hợp từng vùng; mở rộng tín dụng chính sách; đào tạo nghề, giải quyết việc làm; tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị; đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Đáng chú ý, tư duy điều hành đã chuyển từ “hỗ trợ cái thiếu” sang “tạo năng lực để tự vươn lên”. Thay vì dàn trải nguồn lực, tỉnh tập trung vào những khâu then chốt: nhà ở an toàn, sinh kế có giá trị, thị trường ổn định và nâng cao trình độ người lao động. Đây là giải pháp căn cơ để hạn chế tái nghèo - thách thức lớn ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Giảm nghèo bền vững vì thế không chỉ là nhiệm vụ an sinh mà còn là điều kiện tiên quyết để củng cố ổn định xã hội, tạo dư địa tăng trưởng dài hạn. Với cách tiếp cận đa chiều, bài bản và sát cơ sở, Lào Cai không chỉ giảm nghèo về số lượng mà đang từng bước nâng cao chất lượng sống của người dân - tạo nền tảng vững chắc để bước vào giai đoạn phát triển mới chủ động, ổn định và bền vững hơn.
Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh Lào Cai đã sử dụng đa dạng, hiệu quả các nguồn lực cho công tác giảm nghèo và đạt được nhiều kết quả về phát triển kinh tế - xã hội: toàn tỉnh đã nâng cấp, cải tạo và cứng hóa 3.820 km đường liên xã, đường giao thông nông thôn; 100% số xã có điện lưới quốc gia; 98% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh; 91% xã, phường đạt tiêu chí quốc gia về y tế; 75,1% trường học đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%; 100% hộ nghèo, cận nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội được cấp thẻ bảo hiểm y tế; toàn tỉnh đã hỗ trợ làm trên 26.000 căn nhà cho hộ gia đình người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ bị thiệt hại do thiên tai...