Giá vàng sáng 19/8/2026 mở ra một diễn biến khá đặc biệt: thị trường quốc tế giảm mạnh nhưng vàng miếng SJC trong nước vẫn nhích lên.
Theo dữ liệu cập nhật, vàng thế giới đang quanh 4.340 USD/ounce, thấp hơn 76 USD/ounce so với mức 4.416 USD/ounce của ngày 18/8, tương đương mức giảm khoảng 1,72%.
Giá vàng hôm nay 18/8: SJC, BTMC, DOJI, PNJ tăng theo giá vàng thế giới?
Giá vàng sáng 18/8/2026 đồng loạt đi lên khi vàng thế giới vượt 4.400 USD/ounce. SJC lên 144,2 triệu đồng/lượng, triển vọng ngắn hạn vẫn nghiêng về tăng.
Trong khi đó, vàng miếng SJC tại TP.HCM và miền Bắc tăng thêm 100.000 đồng/lượng, lên 141,3 triệu đồng/lượng mua vào và 144,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Diễn biến trái chiều khiến khoảng cách giữa vàng trong nước và vàng thế giới quy đổi một lần nữa được nới rộng.
Trên thị trường quốc tế, vàng đã chịu áp lực rõ rệt trong phiên 18/8 khi lợi suất trái phiếu dài hạn tại Mỹ và nhiều nền kinh tế lớn tăng mạnh. Vàng giao ngay có thời điểm giảm khoảng 1,1% xuống 4.364,9 USD/ounce, trong khi lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 30 năm từng vọt lên vùng cao nhất kể từ năm 2007.
Đà giảm tiếp tục kéo giá vàng xuống khoảng 4.340 USD/ounce vào đầu ngày 19/8 theo dữ liệu thị trường được cập nhật.
Giá vàng SJC 19/8 tăng thêm 100.000 đồng/lượng
Vàng miếng SJC vẫn giữ được xu hướng tăng nhẹ dù thị trường thế giới đi xuống.
| Khu vực | Mua 19/8 | Bán 19/8 | Mua 18/8 | Bán 18/8 | Thay đổi mua/bán |
|---|---|---|---|---|---|
| TP.HCM | 141,30 | 144,30 | 141,20 | 144,20 | +0,10/+0,10 |
| Miền Bắc | 141,30 | 144,30 | 141,20 | 144,20 | +0,10/+0,10 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán SJC tiếp tục ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Việc giá trong nước tăng thêm 100.000 đồng/lượng trong khi vàng quốc tế giảm hơn 1,7% cho thấy giá vàng miếng SJC chưa phản ánh hoàn toàn ngay lập tức cú điều chỉnh trên thị trường thế giới.
Đây cũng là nguyên nhân khiến mức chênh giữa SJC và giá vàng thế giới quy đổi tăng nhanh trong sáng nay.
Giá vàng DOJI 19/8 phân hóa, nhẫn 9999 giảm 200.000 đồng/lượng
DOJI có diễn biến khác với SJC. Trong khi vàng miếng SJC tăng nhẹ, nhẫn tròn 9999 và Kim TT/AVPL giảm 200.000 đồng/lượng.
| Sản phẩm DOJI | Mua 19/8 | Bán 19/8 | Mua 18/8 | Bán 18/8 | Thay đổi |
| Vàng miếng SJC | 141,30 | 144,30 | 141,20 | 144,20 | +0,10/+0,10 |
| Kim TT/AVPL | 141,00 | 145,00 | 141,20 | 145,20 | -0,20/-0,20 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 141,00 | 145,00 | 141,20 | 145,20 | -0,20/-0,20 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 137,00 | 139,00 | 137,00 | 139,00 | Không đổi |
| Vàng nguyên liệu 999 | 136,50 | 138,50 | 136,50 | 138,50 | Không đổi |
| Nữ trang 9999 | 139,50 | 144,50 | 139,50 | 144,50 | Không đổi |
| Nữ trang 999 | 139,00 | 144,00 | 139,00 | 144,00 | Không đổi |
| Nữ trang 99 | 138,30 | 143,50 | 138,30 | 143,50 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Đáng chú ý, giá bán nhẫn 9999 tại DOJI vẫn ở mức 145 triệu đồng/lượng, cao hơn giá bán vàng miếng SJC cùng hệ thống 700.000 đồng/lượng.
Biên độ mua - bán nhẫn 9999 lên tới 4 triệu đồng/lượng. Với khoảng cách này, người mua ngắn hạn chịu rủi ro khá lớn nếu giá thị trường không tăng đủ mạnh để bù chênh lệch.
Giá vàng PNJ 19/8 tiếp tục tăng nhẹ
PNJ điều chỉnh tăng phần lớn sản phẩm, trong đó vàng miếng SJC tăng 100.000 đồng/lượng.
Nhẫn trơn PNJ 999.9 tăng 200.000 đồng/lượng ở chiều mua và 100.000 đồng/lượng ở chiều bán.
| Sản phẩm PNJ | Mua 19/8 | Bán 19/8 | Mua 18/8 | Bán 18/8 | Thay đổi mua/bán |
| Vàng miếng SJC 999.9 | 141,30 | 144,30 | 141,20 | 144,20 | +0,10/+0,10 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 140,70 | 144,20 | 140,50 | 144,10 | +0,20/+0,10 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 140,70 | 144,20 | 140,50 | 144,10 | +0,20/+0,10 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 140,70 | 144,20 | 140,50 | 144,10 | +0,20/+0,10 |
| Vàng PNJ - Phượng Hoàng | 140,70 | 144,20 | 140,50 | 144,10 | +0,20/+0,10 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 138,20 | 143,20 | 138,10 | 143,10 | +0,10/+0,10 |
| Vàng nữ trang 999 | 138,06 | 143,06 | 137,96 | 142,96 | +0,10/+0,10 |
| Vàng nữ trang 9920 | 135,85 | 142,05 | 135,76 | 141,96 | +0,09/+0,09 |
| Vàng nữ trang 99 | 135,57 | 141,77 | 135,47 | 141,67 | +0,10/+0,10 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Giá bán nhẫn PNJ 999.9 ở mức 144,2 triệu đồng/lượng, thấp hơn nhẫn DOJI khoảng 800.000 đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu giảm 500.000 đồng/lượng
Bảo Tín Minh Châu lại điều chỉnh theo hướng ngược lại với SJC phổ biến.
| Sản phẩm | Mua 19/8 | Bán 19/8 | Mua 18/8 | Bán 18/8 | Thay đổi |
| BTMC SJC | 141,30 | 144,30 | 141,80 | 144,80 | -0,50/-0,50 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Giá mua và bán cùng giảm 500.000 đồng/lượng so với ngày 18/8.
Sau điều chỉnh, giá vàng SJC tại Bảo Tín Minh Châu trở về đúng vùng 141,3 - 144,3 triệu đồng/lượng, tương đương mức phổ biến của thị trường.
Giá vàng Phú Quý tăng nhẹ
Phú Quý điều chỉnh tăng ở tất cả nhóm sản phẩm trong bảng khảo sát.
| Sản phẩm Phú Quý | Mua 19/8 | Bán 19/8 | Mua 18/8 | Bán 18/8 | Thay đổi |
| Vàng miếng SJC | 141,30 | 144,30 | 141,20 | 144,20 | +0,10/+0,10 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 141,30 | 144,30 | 141,20 | 144,20 | +0,10/+0,10 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 141,30 | 144,30 | 141,20 | 144,20 | +0,10/+0,10 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 141,20 | 144,20 | 141,10 | 144,10 | +0,10/+0,10 |
| Vàng trang sức 999.9 | 138,70 | 143,70 | 138,50 | 143,50 | +0,20/+0,20 |
| Vàng trang sức 999 | 138,60 | 143,60 | 138,40 | 143,40 | +0,20/+0,20 |
| Vàng trang sức 99 | 137,31 | 142,26 | 137,12 | 142,07 | khoảng +0,20/+0,20 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Với nhẫn tròn 999.9, Phú Quý niêm yết 141,3 - 144,3 triệu đồng/lượng, có chênh lệch mua - bán 3 triệu đồng/lượng, thấp hơn mức 4 triệu đồng tại DOJI.
Vàng thế giới giảm 76 USD chỉ sau một ngày
Dữ liệu thị trường cho thấy vàng quốc tế sáng 19/8 đứng ở khoảng 4.340 USD/ounce.
So với mức 4.416 USD/ounce ngày 18/8, giá đã giảm 76 USD/ounce, tương đương khoảng 1,72%.
| Thời điểm | Giá vàng | Thấp nhất | Cao nhất |
| 18/8/2026 | 4.416 | 4.367 | 4.429 |
| 19/8/2026 | 4.340 | 4.335 | 4.343 |
Đơn vị: USD/ounce.
Đà giảm không xuất hiện một cách bất ngờ. Trong phiên 18/8, vàng giao ngay đã lùi khoảng 1,1% xuống 4.364,9 USD/ounce, chịu sức ép chủ yếu từ lợi suất trái phiếu tăng và những lo ngại mới về lạm phát do giá năng lượng.
Ở phiên trước đó, vàng còn tăng lên hơn 4.417 USD/ounce nhờ USD suy yếu và thị trường giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất. Việc giá đảo chiều nhanh cho thấy vàng đang bước vào giai đoạn biến động rất nhạy với lãi suất và thị trường trái phiếu.
Vì sao căng thẳng địa chính trị tăng nhưng vàng lại giảm?
Thông thường, bất ổn địa chính trị hỗ trợ vàng do nhu cầu tìm kiếm tài sản an toàn. Tuy nhiên, thị trường hiện tại có một điểm khác biệt: căng thẳng tại Trung Đông đồng thời đang đẩy giá năng lượng và kỳ vọng lạm phát lên cao.
Giá dầu Brent trong phiên 18/8 từng lên quanh 91 USD/thùng, trong khi căng thẳng Mỹ - Iran và những lo ngại liên quan tuyến vận tải qua eo biển Hormuz tiếp tục chi phối tâm lý thị trường.
Khi dầu tăng, nhà đầu tư lo lạm phát có thể dai dẳng hơn. Hệ quả là lợi suất trái phiếu dài hạn bị đẩy lên cao.
Lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 30 năm từng tăng lên trên 5,3%, vùng cao nhất kể từ năm 2007. Sau đó lợi suất có hạ nhiệt nhưng vẫn đứng ở mặt bằng rất cao, với kỳ hạn 10 năm khoảng 4,708% và 30 năm khoảng 5,284% cuối phiên.
Đây là bất lợi trực tiếp đối với vàng. Vàng không trả lãi, nên khi lợi suất trái phiếu tăng, chi phí cơ hội của việc nắm giữ kim loại quý cũng tăng theo.
Nói cách khác, trong phiên này tác động tiêu cực từ lợi suất và lạm phát đang lớn hơn lợi ích trú ẩn từ căng thẳng địa chính trị.
Fed trở thành biến số lớn nhất của giá vàng
Tâm điểm tiếp theo là biên bản cuộc họp chính sách ngày 28-29/7 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ.
Tại cuộc họp tháng 7, Fed giữ lãi suất mục tiêu ở 3,5 - 3,75%, với kết quả bỏ phiếu 9-3.
Biên bản cuộc họp này dự kiến được công bố vào 14 giờ ngày 19/8 theo giờ miền Đông Mỹ, tương đương khoảng 1 giờ sáng 20/8 theo giờ Việt Nam.
Thị trường đang đặc biệt muốn biết Fed đánh giá như thế nào về hai rủi ro đối nghịch: kinh tế Mỹ có dấu hiệu hạ nhiệt nhưng giá dầu và lợi suất dài hạn lại gây sức ép lên triển vọng lạm phát.
Theo dữ liệu thị trường gần nhất, xác suất Fed tăng lãi suất vào tháng 9 chỉ khoảng 35%, nhưng kỳ vọng cho một đợt tăng vào cuối năm cao hơn đáng kể.
Điều đó có nghĩa giá vàng có thể phản ứng mạnh ngay sau khi biên bản Fed được công bố.
Nếu biên bản cho thấy nhiều thành viên lo ngại lạm phát và thiên về chính sách chặt chẽ, USD và lợi suất có thể tăng, gây áp lực thêm lên vàng.
Ngược lại, nếu Fed cho thấy sẵn sàng kiên nhẫn với lạm phát và tập trung hơn vào dấu hiệu suy yếu của kinh tế Mỹ, vàng có cơ hội phục hồi.
Vàng thế giới quy đổi chỉ còn khoảng 138,2 triệu đồng/lượng
Mức tỷ giá USD bán ra tại Vietcombank trong ngày 18/8 được ghi nhận khoảng 26.410 đồng/USD. Trang tỷ giá chính thức của Vietcombank cho biết bảng tỷ giá được cập nhật lần cuối lúc 23 giờ ngày 18/8.
Với giá vàng quốc tế khoảng 4.340 USD/ounce, sử dụng quy ước:
- 1 ounce = 31,1034768 gram
- 1 lượng = 37,5 gram
- USD/VND: khoảng 26.410 đồng/USD
Giá vàng thế giới quy đổi tương đương khoảng:
138,19 triệu đồng/lượng
Mức này chưa bao gồm thuế, phí, chi phí gia công và các chi phí kinh doanh.
So với giá bán SJC 144,3 triệu đồng/lượng, giá vàng trong nước đang cao hơn vàng thế giới quy đổi khoảng:
6,11 triệu đồng/lượng
Đây là thay đổi đáng chú ý.
Ở mức vàng thế giới 4.416 USD/ounce, nếu sử dụng cùng tỷ giá quy đổi, giá quốc tế tương đương khoảng 140,61 triệu đồng/lượng. Khi đó khoảng cách với SJC 144,2 triệu đồng chỉ khoảng 3,59 triệu đồng/lượng.
Như vậy, chỉ sau cú giảm của vàng thế giới, chênh lệch lý thuyết đã tăng từ khoảng 3,6 triệu lên hơn 6,1 triệu đồng/lượng.
Điều này cho thấy nếu vàng quốc tế chưa phục hồi, dư địa để giá SJC tăng mạnh trong ngắn hạn sẽ bị hạn chế.
Dự báo giá vàng thế giới 19/8/2026
Trong ngắn hạn, vàng đang đối mặt với nhiều lực cản hơn so với phiên trước.
Vùng 4.335 USD/ounce đang là đáy trong biên độ giao dịch đầu ngày. Nếu mức này bị xuyên thủng rõ ràng, thị trường có thể kiểm tra vùng tâm lý 4.300 USD/ounce.
Kịch bản tiêu cực hơn xuất hiện nếu biên bản Fed mang tính cứng rắn và lợi suất trái phiếu Mỹ tiếp tục tăng. Khi đó, giá có thể lùi về vùng 4.260 - 4.300 USD/ounce.
Ngược lại, nếu 4.300 - 4.335 USD/ounce tạo được hỗ trợ và lợi suất trái phiếu hạ nhiệt, vàng có thể phục hồi về 4.365 - 4.400 USD/ounce.
Mốc 4.400 USD/ounce hiện trở thành vùng kháng cự tâm lý quan trọng. Muốn tái lập xu hướng tăng mạnh như những phiên trước, vàng cần vượt lại khu vực này một cách thuyết phục.
Kịch bản cơ sở trong ngày 19/8: vàng thế giới có khả năng dao động chủ yếu trong khoảng 4.300 - 4.390 USD/ounce.
Biên độ có thể mở rộng mạnh sau khi thị trường Mỹ bước vào phiên giao dịch và đặc biệt khi Fed công bố biên bản cuộc họp.
Triển vọng trung hạn của vàng chưa hoàn toàn xấu
Dù áp lực ngắn hạn gia tăng, nền tảng hỗ trợ vàng trong trung và dài hạn vẫn còn.
Dữ liệu mới nhất cho thấy các ngân hàng trung ương mua ròng khoảng 289 tấn vàng trong quý II/2026, tăng khoảng 62% so với cùng kỳ.
Khảo sát của Hội đồng Vàng Thế giới cũng cho thấy 89% ngân hàng trung ương tham gia khảo sát dự kiến dự trữ vàng toàn cầu tiếp tục tăng trong 12 tháng tới, trong khi 45% dự định tăng dự trữ của chính mình.
Nhu cầu đa dạng hóa dự trữ, rủi ro địa chính trị và lo ngại đối với hệ thống tài chính vẫn là những yếu tố hỗ trợ mang tính cấu trúc cho kim loại quý.
Do đó, đợt giảm hiện tại phù hợp hơn với kịch bản điều chỉnh và tích lũy lại thay vì đủ cơ sở để khẳng định xu hướng dài hạn của vàng đã đảo chiều.
Dự báo giá vàng trong nước 19/8/2026
Đối với thị trường trong nước, yếu tố đáng theo dõi nhất là việc SJC hiện chưa giảm theo vàng thế giới.
Giá bán SJC phổ biến đang ở 144,3 triệu đồng/lượng, trong khi vàng quốc tế quy đổi chỉ khoảng 138,2 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách hơn 6 triệu đồng/lượng khiến khả năng SJC tiếp tục tăng mạnh lên 145 triệu đồng/lượng trong phiên sáng không phải kịch bản có xác suất cao, trừ khi vàng thế giới nhanh chóng đảo chiều.
Kịch bản 1: Vàng thế giới giữ trên 4.330 USD/ounce
Nếu vàng quốc tế ổn định hoặc phục hồi nhẹ, giá SJC có thể tiếp tục dao động quanh:
141 - 144,5 triệu đồng/lượng.
Thị trường trong nước có thể duy trì trạng thái đi ngang hoặc điều chỉnh rất nhẹ.
Kịch bản 2: Vàng thế giới thủng 4.300 USD/ounce
Nếu vàng quốc tế tiếp tục giảm, sức ép điều chỉnh đối với vàng SJC sẽ tăng.
Giá bán SJC có khả năng lùi về vùng:
143,5 - 144 triệu đồng/lượng.
Nhẫn 9999 tại các doanh nghiệp cũng có khả năng phản ứng nhanh hơn vàng miếng, nhất là tại những thương hiệu đang niêm yết quanh 145 triệu đồng/lượng.
Kịch bản 3: Vàng thế giới phục hồi trở lại trên 4.400 USD/ounce
Nếu biên bản Fed có tín hiệu mềm hơn kỳ vọng hoặc lợi suất trái phiếu đảo chiều giảm mạnh, vàng có thể quay trở lại vùng 4.400 USD.
Khi đó, SJC có cơ hội thử lại:
144,5 - 145 triệu đồng/lượng.
Tuy nhiên, đây chưa phải kịch bản cơ sở ở thời điểm đầu ngày 19/8.
Nhà đầu tư cần chú ý gì?
Biến động hiện tại cho thấy giá vàng có thể thay đổi rất nhanh theo thông tin về lãi suất, trái phiếu và địa chính trị.
Đối với người mua vàng vật chất, rủi ro không chỉ nằm ở chiều hướng giá mà còn ở chênh lệch mua - bán.
SJC hiện chênh khoảng 3 triệu đồng/lượng, trong khi nhẫn DOJI lên tới khoảng 4 triệu đồng/lượng.
Điều đó có nghĩa một người mua nhẫn DOJI ở mức 145 triệu đồng/lượng rồi bán lại ngay theo giá mua 141 triệu đồng có thể chịu chênh lệch tới 4 triệu đồng/lượng, chưa xét biến động tiếp theo của thị trường.
Trong ngày 19/8 và rạng sáng 20/8, bốn yếu tố cần theo dõi sát gồm:
- diễn biến lợi suất trái phiếu Mỹ;
- sức mạnh của đồng USD;
- giá dầu và tình hình Trung Đông;
- biên bản cuộc họp tháng 7 của Fed.
Trong ngắn hạn, vàng quốc tế đang chịu áp lực điều chỉnh. Tuy nhiên, với rủi ro địa chính trị còn cao và nhu cầu tích lũy vàng của các ngân hàng trung ương vẫn lớn, xu hướng trung hạn chưa hoàn toàn chuyển sang tiêu cực.
Với thị trường trong nước, việc SJC vẫn duy trì trên 144 triệu đồng/lượng trong khi vàng thế giới giảm sâu khiến rủi ro lớn nhất hiện nay chính là khoảng cách giá trong nước - thế giới đang nới rộng.