Đà phục hồi của vàng thế giới đang được hỗ trợ khi áp lực từ giá dầu và kỳ vọng tăng lãi suất của Mỹ phần nào dịu lại. Tuy nhiên, USD và lợi suất trái phiếu Mỹ vẫn ở mức cao, khiến triển vọng ngắn hạn của kim loại quý chưa hoàn toàn thuận lợi.
Giá vàng miếng xuống thấp nhất hai tháng
Sau phiên giá thế giới giảm mạnh, các thương hiệu trong nước đã hạ giá bán vàng miếng còn 141,5 triệu đồng một lượng, thấp nhất kể từ ngày 1/8.
Giá vàng trong nước sáng 30/9 phân hóa rõ giữa các sản phẩm
Thị trường vàng trong nước bước vào ngày 30/9 với diễn biến khá thận trọng. Vàng miếng SJC tại nhiều doanh nghiệp lớn tăng khoảng 100.000 đồng/lượng so với ngày trước đó, nhưng một số dòng vàng nhẫn và vàng trang sức lại điều chỉnh giảm khá mạnh.
Giá vàng miếng SJC tại Công ty SJC được niêm yết 139,5 triệu đồng/lượng mua vào và 142,5 triệu đồng/lượng bán ra, cùng tăng 100.000 đồng/lượng so với ngày 29/9. Khoảng cách mua - bán tiếp tục duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng SJC ngày 30/9/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Khu vực | Mua vào | Bán ra | So với 29/9 |
|---|---|---|---|
| TP.HCM | 139,50 | 142,50 | +0,10 / +0,10 |
| Miền Bắc | 139,50 | 142,50 | +0,10 / +0,10 |
Tại DOJI, vàng miếng SJC cũng tăng nhẹ lên 139,5 - 142,5 triệu đồng/lượng. Đáng chú ý, nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng và dòng KIM TT/AVPL lại giảm 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, xuống 138,5 - 142,5 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng DOJI ngày 30/9/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | Thay đổi mua/bán |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 139,50 | 142,50 | +0,10 / +0,10 |
| KIM TT/AVPL | 138,50 | 142,50 | -1,00 / -1,00 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 138,50 | 142,50 | -1,00 / -1,00 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 134,50 | 136,50 | -0,50 / -0,50 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 134,00 | 136,00 | -0,50 / -0,50 |
| Nữ trang 9999 | 138,50 | 141,50 | +0,50 / -0,50 |
| Nữ trang 999 | 138,00 | 141,00 | +0,50 / -0,50 |
| Nữ trang 99 | 136,20 | 139,50 | +0,50 / -0,50 |
PNJ duy trì mặt bằng tương đối đồng đều đối với vàng miếng và vàng nhẫn. Vàng miếng SJC, nhẫn trơn PNJ, Kim Bảo, Phúc Lộc Tài và Phượng Hoàng cùng được niêm yết 139,5 - 142,5 triệu đồng/lượng, tăng 100.000 đồng/lượng.
Bảng giá vàng PNJ ngày 30/9/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | Thay đổi mua/bán |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 139,50 | 142,50 | +0,10 / +0,10 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 139,50 | 142,50 | +0,10 / +0,10 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 139,50 | 142,50 | +0,10 / +0,10 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 139,50 | 142,50 | +0,10 / +0,10 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 139,50 | 142,50 | +0,10 / +0,10 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 136,50 | 141,50 | -0,30 / -0,30 |
| Vàng nữ trang 999 | 136,36 | 141,36 | -0,30 / -0,30 |
| Vàng nữ trang 9920 | 134,17 | 140,37 | -0,30 / -0,30 |
| Vàng nữ trang 99 | 133,89 | 140,09 | khoảng -0,29 / -0,29 |
Riêng Bảo Tín Minh Châu cho thấy mức điều chỉnh đáng chú ý ở chiều mua. Giá BTMC SJC giảm từ 139,4 triệu đồng xuống 138,5 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán tăng nhẹ lên 142,5 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán vì thế nới rộng lên 4 triệu đồng/lượng.
Bảng giá Bảo Tín Minh Châu ngày 30/9/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | Thay đổi mua/bán |
|---|---|---|---|
| BTMC SJC | 138,50 | 142,50 | -0,90 / +0,10 |
Phú Quý cũng nâng giá vàng miếng SJC và nhẫn tròn 999.9 thêm 100.000 đồng/lượng, trong khi nhóm vàng trang sức giảm khoảng 500.000 đồng/lượng.
Bảng giá vàng Phú Quý ngày 30/9/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | Thay đổi mua/bán |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 139,50 | 142,50 | +0,10 / +0,10 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 139,50 | 142,50 | +0,10 / +0,10 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 139,50 | 142,50 | +0,10 / +0,10 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 139,40 | 142,40 | +0,10 / +0,10 |
| Vàng trang sức 999.9 | 136,50 | 141,50 | -0,50 / -0,50 |
| Vàng trang sức 999 | 136,40 | 141,40 | -0,50 / -0,50 |
| Vàng trang sức 99 | 135,14 | 140,09 | khoảng -0,50 / -0,50 |
Diễn biến trên cho thấy giá vàng miếng trong nước đang phản ứng khá chậm so với mức phục hồi của thị trường thế giới. Việc giá mua vào ở một số sản phẩm bị điều chỉnh mạnh hơn giá bán cũng cho thấy doanh nghiệp vẫn duy trì biên an toàn cao trong bối cảnh giá quốc tế biến động lớn.
Vàng thế giới trở lại 4.182 USD/ounce, nhưng áp lực chưa biến mất
Theo dữ liệu cập nhật sáng 30/9, giá vàng thế giới đứng quanh 4.182 USD/ounce, tăng 60 USD so với mức 4.122 USD/ounce ngày 29/9, tương đương mức tăng khoảng 1,46%.
Đây là nhịp hồi đáng chú ý sau khi kim loại quý vừa trải qua một phiên giảm mạnh, có thời điểm xuống vùng thấp nhất hơn 7 tuần. Trong phiên 29/9, giá vàng đã phục hồi khi lực mua xuất hiện trở lại, dù đồng USD mạnh và lợi suất trái phiếu Mỹ cao tiếp tục hạn chế dư địa tăng.
Một yếu tố tích cực mới xuất hiện là giá dầu quốc tế giảm khoảng 2,5% trong phiên 29/9 khi nguồn cung từ Trung Đông có dấu hiệu cải thiện. Giá dầu hạ nhiệt có thể phần nào làm giảm lo ngại lạm phát, từ đó giảm áp lực buộc chính sách tiền tệ Mỹ phải thắt chặt nhanh hơn.
Cùng lúc, quan điểm từ một số quan chức Fed cũng trở nên bớt quyết liệt hơn. Chủ tịch Fed New York John Williams cho rằng chưa có sự cấp bách phải tiếp tục nâng lãi suất ngay, dù quyết định cuối cùng vẫn phụ thuộc các dữ liệu kinh tế sắp công bố. Đây là yếu tố có thể tạo khoảng thở cho vàng trong ngắn hạn.
Tuy vậy, rủi ro giảm giá chưa biến mất. Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm đã vượt 5%, đồng USD duy trì ở vùng cao và thị trường vẫn đang cân nhắc khả năng Fed còn tăng lãi suất trong những tháng cuối năm. Vàng là tài sản không sinh lãi nên thường chịu sức ép khi lợi suất thực và USD cùng tăng.
Ở góc nhìn dài hơn, nhu cầu đầu tư vẫn tạo lớp hỗ trợ đáng kể. Các quỹ ETF vàng toàn cầu ghi nhận lượng nắm giữ lên mức kỷ lục 4.189 tấn vào cuối tháng 8, trong khi Ngân hàng Trung ương Trung Quốc tiếp tục gia tăng dự trữ vàng. Đây là những yếu tố khiến thị trường khó hình thành một xu hướng giảm dài hạn chỉ từ các nhịp điều chỉnh ngắn.
Dự báo giá vàng: Có thể tiếp tục hồi phục nhưng khó tăng một mạch
Với mức 4.182 USD/ounce sáng 30/9, xu hướng ngắn hạn của vàng thế giới đang nghiêng về phục hồi kỹ thuật. Khu vực 4.200 - 4.220 USD/ounce sẽ là vùng cần theo dõi trước tiên. Nếu vượt rõ vùng này và đồng USD cùng lợi suất trái phiếu Mỹ hạ nhiệt, giá vàng có thể mở rộng đà hồi phục về khu vực 4.250 USD/ounce.
Ngược lại, nếu USD tiếp tục mạnh lên hoặc dữ liệu kinh tế Mỹ khiến kỳ vọng tăng lãi suất quay trở lại, vàng có thể chịu áp lực chốt lời. Vùng 4.140 - 4.160 USD/ounce là khu vực hỗ trợ gần, tiếp đến là vùng 4.110 - 4.120 USD/ounce, gần đáy vừa được thiết lập đầu tuần.
Vì vậy, kịch bản đáng chú ý trong ngày 30/9 là vàng thế giới dao động chủ yếu trong khoảng 4.150 - 4.220 USD/ounce, với xu hướng hồi phục chiếm ưu thế nhưng biến động có thể lớn.
Đối với thị trường trong nước, giá vàng miếng SJC đang ở 139,5 - 142,5 triệu đồng/lượng. Nếu vàng thế giới giữ được vùng trên 4.180 USD/ounce và tiếp tục hướng lên 4.200 USD/ounce, giá bán SJC có khả năng duy trì quanh 142 - 143 triệu đồng/lượng, thậm chí có thể được điều chỉnh tăng thêm nếu thị trường quốc tế bứt phá mạnh.
Tuy nhiên, mức tăng trong nước nhiều khả năng không hoàn toàn đồng đều. Việc DOJI giảm mạnh giá nhẫn trong khi SJC tăng nhẹ, hay BTMC nới rộng chênh lệch mua - bán lên 4 triệu đồng/lượng, cho thấy các doanh nghiệp đang đánh giá rủi ro khác nhau.
Người mua vàng trong giai đoạn này cũng cần lưu ý mức chênh lệch mua - bán. Với vàng SJC phổ biến khoảng 3 triệu đồng/lượng và một số sản phẩm lên tới 4 triệu đồng/lượng, giá vàng cần tăng khá mạnh mới bù được phần chênh lệch ngay tại thời điểm giao dịch.
Nhìn tổng thể, tín hiệu sáng 30/9 tích cực hơn so với phiên đầu tuần. Vàng thế giới đã lấy lại vùng 4.180 USD/ounce, dầu hạ nhiệt và thông điệp chính sách tiền tệ Mỹ bớt cứng rắn hơn. Dù vậy, USD mạnh cùng lợi suất trái phiếu cao vẫn là lực cản lớn. Khả năng vàng tiếp tục phục hồi đang nhỉnh hơn, nhưng chưa đủ cơ sở để khẳng định một đợt tăng mạnh mới đã hình thành.