Đường sắt tốc độ cao mở ra không gian phát triển mới cho hành lang Bắc - Nam

Trục Bắc - Nam là hành lang phát triển quan trọng nhất cả nước, đi qua 20 tỉnh, thành phố, kết nối 2 cực tăng trưởng Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, các đô thị lớn, khu công nghiệp, du lịch, dịch vụ quan trọng, đóng góp hơn 50% tổng sản phẩm nội địa (GDP) nước ta. Việc xây dựng đường sắt tốc độ cao sẽ góp phần tái cơ cấu không gian hành lang theo hướng bền vững, tạo ra động lực lan tỏa, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho các địa phương, các vùng và cả nước.

1.jpg
Một tuyến đường sắt tốc độ cao của Nhật Bản. Ảnh tư liệu của Ban Quản lý dự án đường sắt

Phát huy ưu thế của vận tải đường sắt

Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh sự cần thiết của việc sớm đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao để hiện thực hóa các chủ trương, định hướng của Đảng, nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị và triển khai các quy hoạch; tăng cường kết nối vùng, miền, các cực tăng trưởng, tạo động lực lan tỏa, mở ra không gian phát triển kinh tế mới; bảo đảm nhu cầu vận tải trên hành lang Bắc - Nam, là hành lang vận tải lớn nhất cả nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh. Cùng với thống nhất chủ trương đầu tư toàn tuyến dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Ban cán sự đảng Chính phủ và Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thiện hồ sơ để trình Kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XV xem xét, quyết định thông qua chủ trương, một số cơ chế, chính sách đặc thù để huy động nguồn lực, thủ tục đầu tư dự án.

Hiện nay, hành lang Bắc-Nam đã có đầy đủ 5 phương thức vận tải, tuy nhiên, về vận tải hành khách đang có sự mất cân đối, thiếu bền vững, trong đó đường bộ chiếm tỷ trọng lớn nhất, sau đó đến hàng không, còn đường sắt chỉ chiếm khoảng 1% thị phần. Trong các phương thức vận tải, đường sắt là phương thức có nhiều ưu thế về vận tải khối lượng lớn, nhanh, an toàn, thân thiện với môi trường. Nhiều quốc gia đã và đang ưu tiên phát triển đường sắt tốc độ cao để rút ngắn khoảng cách, kết nối vùng miền, mở ra không gian phát triển kinh tế-xã hội. Đối với trục Bắc - Nam của nước ta, đường sắt tốc độ cao sẽ phát huy được ưu điểm về khối lượng vận tải, thời gian ngắn, tin cậy, thuận tiện, tạo ra một hành lang phát triển mới. Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch mạng lưới đường sắt xác định lộ trình đầu tư tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam trước năm 2030.

Tuy nhiên, thực tế, thời gian qua, việc phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia chưa được quan tâm đúng mức, hạ tầng lạc hậu, xuống cấp; nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu. Đường sắt Việt Nam hình thành từ thế kỷ 19, từng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước, nhưng hiện nay đang dần mất vai trò, thị phần giảm sút do không cạnh tranh được với phương thức vận tải khác. Hạ tầng đường sắt quốc gia lạc hậu, đường đơn, khổ hẹp chiếm đa số (85%), chưa điện khí hóa, tốc độ khai thác thấp, hạn chế về tải trọng (khổ 1.000mm, tải trọng 14 tấn/trục), năng lực thấp (17-25 đôi tàu/ngày đêm), chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu; tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông... Định hướng phát triển đường sắt đã được cụ thể hóa trong các chiến lược, quy hoạch, tuy nhiên việc triển khai thực hiện chưa thực sự quyết liệt nên cơ bản không đạt được mục tiêu đề ra.

Với kịch bản phát triển theo dự báo, đường sắt hiện hữu cơ bản đáp ứng năng lực vận tải hàng hóa trong thời gian tới. Với năng lực như hiện nay, đến năm 2035, lượng hành khách mà ngành đường sắt có thể chuyên chở thiếu hụt khoảng 24,7 triệu lượt hành khách/năm so với nhu cầu, đến năm 2040 thiếu hụt khoảng 58,4 triệu lượt hành khách/năm và đến năm 2050 thiếu hụt khoảng 119,4 triệu lượt hành khách/năm. Theo Bộ Giao thông vận tải, để đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách còn thiếu hụt, phương án đầu tư đường sắt tốc độ cao là tối ưu và hiệu quả nhất. Đường sắt tốc độ cao là phương thức vận tải bền vững, an toàn, thân thiện và tỷ lệ chiếm dụng đất ít hơn các phương thức vận tải khác.

Nhiều quốc gia đã và đang nghiên cứu, phát triển đường sắt tốc độ cao

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của 21 quốc gia, vùng lãnh thổ đang khai thác, 7 nước đang xây dựng đường sắt tốc độ cao và các tổ chức quốc tế, Bộ Giao thông vận tải cho biết, các quốc gia có hình thái địa kinh tế tập trung ở một số hành lang chiến lược hoặc theo trục dọc tương tự Việt Nam đều phát triển đường sắt tốc độ cao khá sớm để kết nối các hành lang, tạo không gian phát triển... Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy, thời điểm thích hợp để Việt Nam xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao khi thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 4.110USD (năm 2022), năm 2023 đạt 4.284 USD và ước đạt khoảng 7.500 USD vào năm 2030 (theo mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm giai đoạn 2021-2030).

Về lựa chọn công nghệ, cơ bản các nước đều lựa chọn loại hình đường sắt tốc độ cao chạy trên ray vì mức độ tin cậy, hiệu quả, thuận lợi kết nối với tuyến đường sắt hiện hữu và nghiên cứu nâng cao tốc độ khai thác. Đến nay, cơ bản các quốc gia đều tổ chức khai thác riêng tàu khách với đường sắt tốc độ cao; các tuyến đường sắt hiện hữu vẫn tiếp tục khai thác có hiệu quả. Về hình thức đầu tư, dự án đường sắt tốc độ cao mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội rất lớn nhưng không thể hoàn vốn nếu thực hiện theo phương thức đối tác công-tư (PPP), nên các nước cơ bản đều sử dụng đầu tư công cho toàn bộ phần hạ tầng. Về phương tiện (đầu máy, toa xe), chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước thực hiện, một số tuyến hiệu quả kêu gọi doanh nghiệp khác đầu tư phương tiện và khai thác.

Huy động tối đa các nguồn lực đầu tư

Qua quá trình nghiên cứu cẩn trọng, kỹ lưỡng với sự hỗ trợ của các tổ chức trong nước và nước ngoài, tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam được đề xuất đầu tư với quy mô đường đôi, khổ 1.435 mm, điện khí hóa, tốc độ thiết kế 350km/giờ. Phương án này sẽ hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng nhu cầu vận tải trong tương lai. Đồng thời, tiếp tục khai thác hiệu quả tuyến đường sắt Bắc - Nam hiện hữu.

Để thực hiện thành công dự án, cần huy động tối đa các nguồn lực đầu tư, lộ trình phù hợp với quy hoạch, điều kiện và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước, trong đó ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo, quyết định. Bên cạnh đó, xây dựng các cơ chế, chính sách đột phá để đẩy nhanh tiến độ sớm đưa vào khai thác toàn tuyến; ưu tiên phát triển công nghiệp đường sắt đồng bộ với các ngành công nghiệp khác; phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ hiện đại trong xây dựng, quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng đường sắt. Để bảo đảm đồng bộ giữa hạ tầng và phương tiện, dự án được đề xuất đầu tư theo hình thức đầu tư công. Trong quá trình xây dựng và vận hành sẽ kêu gọi đầu tư các khu dịch vụ, thương mại tại các ga, tăng thêm phương tiện khai thác khi có nhu cầu. Cùng với đó, rà soát, hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý, trong đó có Luật Đường sắt để bổ sung các cơ chế, chính sách nhằm phát triển đường sắt tốc độ cao.

Theo báo cáo của Bộ Giao thông vận tải, tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam có chiều dài tuyến chính khoảng 1.541 km, đi qua 20 tỉnh, thành phố gồm 23 ga hành khách và 5 ga hàng hóa. Dự kiến bố trí 5 depot (trung tâm quản lý, vận hành, bảo dưỡng...) cho tàu khách tại Hà Nội, Nghệ An, Đà Nẵng, Khánh Hòa và TP Hồ Chí Minh. Điểm đầu: Ga Ngọc Hồi (Hà Nội), xem xét phương án để đường sắt tốc độ cao có thể chạy tàu tới ga Hà Nội. Điểm cuối: Đối với tàu khách là ga Thủ Thiêm (TP Hồ Chí Minh), với tàu hàng là ga Trảng Bom (Đồng Nai). Sơ bộ tổng mức đầu tư hơn 67 tỷ USD.

Theo qdnd.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Xã Mỏ Vàng phát động phong trào làm đường giao thông nông thôn giai đoạn 2026 - 2030

Xã Mỏ Vàng phát động phong trào làm đường giao thông nông thôn giai đoạn 2026 - 2030

Sáng 18/4, tại thôn Khe Trầu, xã Mỏ Vàng đã tổ chức Lễ phát động phong trào làm đường giao thông nông thôn giai đoạn 2026 - 2030 với chủ đề “Phát triển giao thông - xây dựng nông thôn mới”. Đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân và từng bước hoàn thiện hạ tầng nông thôn trên địa bàn.

Doanh nghiệp xây dựng "gồng mình" trước giá nhiên liệu, vật liệu tăng cao

Doanh nghiệp xây dựng "gồng mình" trước giá nhiên liệu, vật liệu tăng cao

Những ngày gần đây, tại nhiều công trường xây dựng trên địa bàn tỉnh Lào Cai, máy móc vẫn hoạt động hết công suất, tiến độ thi công được duy trì khẩn trương. Thế nhưng, phía sau sự nhộn nhịp ấy là nỗi lo thường trực của nhiều doanh nghiệp khi giá nhiên liệu và vật liệu xây dựng liên tục tăng cao. Trong khi các hợp đồng đã ký kết với đơn giá cố định, nhiều đơn vị buộc phải "gồng mình" thi công để đảm bảo tiến độ, chấp nhận nguy cơ thua lỗ nặng.

Trao truyền khát vọng, tiếp nối mạch nguồn

Trao truyền khát vọng, tiếp nối mạch nguồn

Dám nghĩ, dám làm và miệt mài lao động sản xuất, nhiều người cao tuổi ở Lào Cai đã xây dựng một cuộc sống tốt đẹp cho gia đình. Họ không chỉ làm giàu cho bản thân, cho quê hương mà còn định hướng, truyền cảm hứng, thúc đẩy tinh thần lập nghiệp và động lực phát triển cho người trẻ, tạo nền tảng tiếp nối bền vững giữa kinh nghiệm và khát vọng của hai thế hệ.

Nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên số

Nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên số

Thời gian qua, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất, kinh doanh đã giúp nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng sản phẩm, mở ra dư địa tăng trưởng mới, tạo “cú huých” để doanh nghiệp bứt phá trong kỷ nguyên số.

Phường Văn Phú chuẩn bị mặt bằng thu hút đầu tư

Phường Văn Phú chuẩn bị mặt bằng thu hút đầu tư

Để tạo động lực thu hút đầu tư phát triển kinh tế, phường Văn Phú đang tập trung đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất “sạch”. Với sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền cùng sự đồng thuận của người dân, những khó khăn, vướng mắc đang từng bước được tháo gỡ.

Lấy phòng ngừa làm gốc trong ứng phó thiên tai

Phường Yên Bái: Lấy phòng ngừa làm gốc trong ứng phó thiên tai

Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến cực đoan, thiên tai không còn là yếu tố bất thường mà đã trở thành thách thức thường trực đối với nhiều địa phương. Với phường Yên Bái (Lào Cai), việc chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại, nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân được xác định là nhiệm vụ trọng tâm gắn chặt với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

"Tiếp sức" cho nền kinh tế

"Tiếp sức" cho nền kinh tế

Bước sang năm 2026, dòng vốn từ các ngân hàng đang “chảy” mạnh vào nền kinh tế ngay từ quý I. Các ngân hàng trên địa bàn tỉnh đã chủ động triển khai linh hoạt chính sách tiền tệ, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Bí quyết tăng năng suất cho dưa chuột bản địa ở Cốc San

Bí quyết tăng năng suất cho dưa chuột bản địa ở Cốc San

Vụ thu hoạch năm nay, toàn xã Cốc San, tỉnh Lào Cai có khoảng 30 ha trồng dưa chuột địa phương, ước đạt sản lượng 300 tấn, mang lại tổng thu nhập khoảng 5 tỷ đồng. Đây không chỉ là con số ấn tượng về kinh tế mà còn phản ánh sự chuyển biến rõ nét trong tư duy sản xuất của người dân.

Giữ tri thức cây thuốc bản địa từ mô hình cộng đồng

Giữ tri thức cây thuốc bản địa từ mô hình cộng đồng

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nà Hẩu - nơi được ví như “kho tàng xanh” của vùng Tây Bắc. Tại đây, những hiểu biết truyền thống không chỉ tồn tại dưới dạng kinh nghiệm dân gian mà còn được cộng đồng các thế hệ người dân bản địa gìn giữ và trao truyền. Những năm gần đây, việc bảo tồn tri thức này đã dần được “định hình” thông qua các mô hình cộng đồng, mở ra hướng phát triển sinh kế bền vững cho người dân.

Lào Cai nỗ lực đưa điện về vùng khó

Lào Cai nỗ lực đưa điện về vùng khó

Xác định việc đưa điện đến vùng sâu, vùng xa không chỉ dừng ở đầu tư hạ tầng mà còn là đầu tư cho phát triển, an sinh xã hội và tương lai của người dân, tỉnh Lào Cai đang tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp đồng bộ nhằm thu hẹp khoảng cách trong tiếp cận điện năng giữa các khu vực, đặc biệt là ở những địa bàn còn nhiều khó khăn, bảo đảm không để người dân nào bị bỏ lại phía sau.

Duy trì mục tiêu tăng trưởng hai con số

Duy trì mục tiêu tăng trưởng hai con số

Bước vào năm 2026 - năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, Lào Cai đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP ở mức hai con số...

Đoàn kiểm tra công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh Lào Cai làm việc tại xã Khánh Yên

Đoàn kiểm tra công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh Lào Cai làm việc tại xã Khánh Yên

Ngày 16/4, đoàn kiểm tra của Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh Lào Cai do ông Vũ Tá Luân - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh làm trưởng đoàn đã có buổi kiểm tra đột xuất công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2026 tại xã Khánh Yên.

Đổi thay ở Kiến Rịa

Đổi thay ở Kiến Rịa

Là nơi cư trú của đồng bào người Kinh khai hoang những năm 60 của thế kỷ trước và dân tộc Tày bản địa, mặc dù đất đai không rộng, lại không phải “bờ xôi, ruộng mật” nhưng thôn Kiến Rịa, xã Nghĩa Tâm hôm nay đã có bước chuyển mình mạnh mẽ.

Bảo tồn động vật hoang dã từ ý thức người dân

Bảo tồn động vật hoang dã từ ý thức người dân

Những năm gần đây, công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Lào Cai đang có những chuyển biến tích cực, trong đó nổi bật là sự thay đổi trong nhận thức của người dân. Từ chỗ thờ ơ, thậm chí tham gia săn bắt, nuôi nhốt, nhiều người đã chủ động giao nộp động vật hoang dã cho cơ quan chức năng để cứu hộ, chăm sóc và tái thả về môi trường tự nhiên.

fb yt zl tw