Đề xuất quy chuẩn về trụ sạc, trạm sạc xe điện

Bộ Công Thương đang dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trụ sạc, trạm sạc xe điện.

Bộ Công Thương đề xuất Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trụ sạc, trạm sạc xe điện
Bộ Công Thương đề xuất Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trụ sạc, trạm sạc xe điện

Bộ Công Thương cho biết, trong những năm gần đây, thị trường phương tiện điện tại Việt Nam phát triển nhanh, với sự tham gia của doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp trong nước và doanh nghiệp nhập khẩu.

Cùng với sự phát triển của xe điện, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư, sản xuất, nhập khẩu, cung cấp trụ sạc và dịch vụ sạc. Hệ thống sạc được phát triển theo nhiều mô hình, gồm mạng lưới sạc do nhà sản xuất phương tiện đầu tư; trụ sạc tại đại lý; trụ sạc bán hoặc lắp đặt cho khách hàng; mạng sạc công cộng do doanh nghiệp độc lập vận hành; và giải pháp sạc tại nơi làm việc, nơi trông giữ xe hoặc khu dịch vụ. Theo số liệu được tổng hợp trong hồ sơ ban đầu, một mạng lưới lớn đã phát triển khoảng 150.000 cổng sạc với công suất đến 360 kW trên phạm vi toàn quốc. Bên cạnh đó, nhiều nhà cung cấp trong và ngoài nước tham gia thị trường thiết bị, phần mềm, thanh toán, vận hành và bảo trì.

Sự đa dạng về chủ thể, công nghệ, chuẩn đầu nối, công suất và mô hình kinh doanh tạo động lực phát triển thị trường nhưng cũng đặt ra yêu cầu thống nhất về an toàn và chất lượng. Trụ sạc đang được sản xuất, nhập khẩu và lưu thông theo tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn nước ngoài hoặc tiêu chuẩn do doanh nghiệp công bố. Trong khi đó, các yêu cầu đối với toàn bộ trạm sạc còn nằm rải rác trong pháp luật và quy chuẩn về điện lực, an toàn điện, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy, đo lường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, giao thông và môi trường.

Theo Bộ Công Thương, một số khó khăn chủ yếu trong thực tiễn phải kể đến như: Chưa có văn bản kỹ thuật thống nhất phân định đầy đủ yêu cầu đối với sản phẩm trụ sạc và yêu cầu đối với hệ thống trạm sạc sau lắp đặt.

Chủ đầu tư, đơn vị thiết kế, đơn vị lắp đặt và cơ quan địa phương gặp khó khăn khi xác định yêu cầu về mặt bằng, ô sạc, tổ chức giao thông, nền móng, thoát nước, khoảng cách thao tác và bảo vệ chống va chạm.

Việc lựa chọn cấp điện áp, tính toán công suất, hệ số đồng thời, đấu nối, đo đếm, chất lượng điện năng và quản lý phụ tải chưa có hướng dẫn tích hợp dành riêng cho trạm sạc.

Yêu cầu về RCD (thiết bị bảo vệ dòng rò), phát hiện dòng dư một chiều, bảo vệ quá dòng, ngắn mạch, xung sét, nối đất và ngắt điện khẩn cấp cần được áp dụng thống nhất giữa trụ sạc và hệ thống phân phối nội bộ.

Việc bố trí phương tiện phòng cháy, chữa cháy, biển cảnh báo, nội quy, tiêu lệnh, điều kiện ngừng khai thác và phối hợp xử lý sự cố cần được xác định rõ trong mối quan hệ với quy định chuyên ngành.

Thiết bị đo điện năng sạc pin xe điện đã được đưa vào phạm vi quản lý phương tiện đo nhóm 2, nhưng việc tích hợp giữa đo lường trong trụ, đo giao nhận điện tại điểm đấu nối và dữ liệu tính phí dịch vụ cần được làm rõ.

Trạm sạc công cộng ngày càng phụ thuộc vào phần mềm, truyền thông và nền tảng thanh toán; do đó cần có yêu cầu tối thiểu về đồng bộ thời gian, phân quyền, nhật ký, lưu trữ, sao lưu và bảo vệ dữ liệu.

Trạm hiện hữu được hình thành qua nhiều giai đoạn, có chất lượng và hồ sơ khác nhau; cần có lộ trình rà soát, khắc phục phù hợp, đồng thời xử lý ngay các nguy cơ trực tiếp đến an toàn.

Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 03/2024/TT-BKHCN ngày 15/4/2024 sửa đổi, bổ sung quy định về đo lường đối với phương tiện đo nhóm 2, trong đó bổ sung quản lý thiết bị đo điện năng sạc pin xe điện. Quy định này góp phần bảo đảm minh bạch trong tính giá, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hạn chế gian lận đo lường. Tuy nhiên, quy định về đo lường chỉ giải quyết một cấu phần của hệ thống; việc bảo đảm an toàn và vận hành trạm vẫn cần một QCVN chuyên ngành, có khả năng liên kết các yêu cầu hiện có.

Thực tiễn nêu trên cho thấy việc xây dựng QCVN về trụ sạc và trạm sạc là cần thiết, cấp bách, phù hợp với tốc độ phát triển thị trường và yêu cầu quản lý nhà nước. Quy chuẩn không thay thế các quy chuẩn chuyên ngành mà xác lập yêu cầu tối thiểu và điểm giao diện để các quy định về sản phẩm, điện lực, phòng cháy chữa cháy, xây dựng, đo lường và dữ liệu được áp dụng đồng bộ.

Việc ban hành QCVN tạo cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước, địa phương, đơn vị điện lực, tổ chức chứng nhận, phòng thử nghiệm, chủ đầu tư và doanh nghiệp áp dụng thống nhất; giảm cách hiểu khác nhau, hạn chế yêu cầu phát sinh không cần thiết và thúc đẩy đầu tư hạ tầng sạc an toàn.

QCVN là công cụ cần thiết để hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp xe điện, thiết bị điện và dịch vụ sạc trong nước. Việc sử dụng tiêu chuẩn quốc tế và TCVN làm nền tảng tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động thiết kế, thử nghiệm, chứng nhận, nâng cao chất lượng và tham gia chuỗi cung ứng.

Tại dự thảo, Bộ Công Thương đề xuất cụ thể quy định kỹ thuật đối với trụ sạc; quy định kỹ thuật đối với trạm sạc; quy định về quản lý; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân…

Trong đó nêu rõ, trạm sạc xe điện phải bảo đảm an toàn điện, an toàn phòng cháy và chữa cháy, an toàn cho người sử dụng, phương tiện, thiết bị và công trình trong suốt quá trình thiết kế, thi công, lắp đặt, nghiệm thu, vận hành, bảo trì, cải tạo và chấm dứt khai thác.

Trạm sạc phải tuân thủ đồng thời các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định pháp luật có liên quan về hệ thống điện, an toàn điện, phòng cháy và chữa cháy, xây dựng, giao thông, bảo vệ môi trường, đo lường, thanh toán, an toàn thông tin và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Trạm sạc phải được thiết kế đồng bộ giữa hệ thống cấp điện, hệ thống phân phối điện, trụ sạc, hệ thống bảo vệ, nối đất, chống sét, giám sát, điều khiển, phòng cháy chữa cháy, chiếu sáng, biển báo, tổ chức giao thông và hạ tầng phụ trợ.

Trạm sạc phải có giải pháp kỹ thuật để phát hiện, cảnh báo, cô lập và xử lý sự cố; bảo đảm ngắt điện tự động hoặc thủ công khi xảy ra cháy, rò điện, va chạm, nước ngập, quá nhiệt, hư hỏng cách điện hoặc sự cố nghiêm trọng khác.

Các thiết bị, vật liệu và phụ kiện sử dụng trong trạm sạc phải phù hợp với môi trường lắp đặt, cấp bảo vệ, điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, mưa nắng, ăn mòn, bụi, rung động và nguy cơ va chạm phương tiện.

Yêu cầu về bố trí trạm sạc

Vị trí bố trí trạm sạc phải phù hợp mục đích sử dụng đất, công năng vực và tổ chức giao thông nội bộ; không làm cản trở lối ra vào công trình, lối thoát nạn, tuyến chữa cháy, khu vực thao tác của phương tiện khác và hoạt động vận hành của công trình lân cận.

Thiết kế đường bên trong trạm sạc phải đáp ứng các yêu cầu về giao thông xe cộ: chiều rộng của một làn đường không được nhỏ hơn 3,5 m, và chiều rộng của hai làn đường không được nhỏ hơn 6 m.

Khu vực sạc ô tô phải có vị trí đỗ xe, lối vào, lối ra và không gian thao tác phù hợp với loại phương tiện phục vụ. Đối với bố trí điển hình tại khu vực công cộng, kích thước mỗi ô sạc ô tô không được nhỏ hơn 2,5 m x 5,0 m; trường hợp cải tạo trên nền hiện trạng đã có vạch sơn, bề rộng ô sạc không được nhỏ hơn 2,3 m.

Đối với bố trí ô sạc chéo, ô sạc song song, ô sạc cho xe thương mại, xe buýt, xe tải, xe đầu kéo hoặc sơ đồ tổ chức giao thông đặc thù, kích thước ô đỗ, khoảng lùi thiết bị, khoảng cách đến bó vỉa, vỉa hè hoặc làn xe phải được xác định theo kích thước phương tiện, bán kính quay, chiều dài cáp sạc, hướng đỗ xe và phương án vận hành thực tế.

Khi ô sạc bố trí sát tường, hàng rào hoặc vật cản cố định, khoảng cách từ mép vạch sơn ô sạc đến vật cản không được nhỏ hơn 0,5 m, trừ trường hợp có giải pháp bố trí tương đương bảo đảm thao tác an toàn, tiếp cận thiết bị và bảo trì.

Trụ sạc có thể được bố trí cạnh ô đỗ, giữa hai ô đỗ, trên vỉa hè, lắp đặt trên tường hoặc theo mô hình một trụ phục vụ một hoặc nhiều ô sạc. Trường hợp bố trí trên vỉa hè, phải bảo đảm bề rộng thông thủy liên tục tối thiểu dành cho người đi bộ theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hạ tầng kỹ thuật. Việc bố trí trụ sạc phải phù hợp với chiều dài cáp sạc, hướng đỗ xe, giải pháp bố trí, quản lý cáp sạc và phương án tổ chức giao thông; bảo đảm việc sạc thuận tiện, an toàn; không tạo nguy cơ vấp ngã, không để cáp sạc cắt ngang lối đi gây mất an toàn hoặc bị kéo căng…

Dự thảo đang được lấy ý kiến góp ý trên Cổng TTĐT Bộ Công Thương.

baochinhphu.vn Xem link nguồn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Động lực thúc đẩy chăn nuôi ở Mỏ Vàng

Động lực thúc đẩy chăn nuôi ở Mỏ Vàng

Là xã vùng 3 còn nhiều khó khăn, nguồn lực đầu tư cho sản xuất của người dân còn hạn chế, thời gian qua, việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 21 của HĐND tỉnh đã tạo thêm điều kiện để người dân xã Mỏ Vàng phát triển chăn nuôi, từng bước nâng cao thu nhập.

Doanh số bán ô tô tại Việt Nam tăng 38%, xe hybrid tăng tốc

Doanh số bán ô tô tại Việt Nam tăng 38%, xe hybrid tăng tốc

Chiều 9/10, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) công bố doanh số bán hàng toàn thị trường của các đơn vị thành viên trong tháng 9/2026 đạt 35.094 xe, tăng 38% so với trước; trong đó, xe hybrid tăng 56%, trong khi xe nhập khẩu tiếp tục vượt xe lắp ráp về tốc độ tăng trưởng.

9 tháng năm 2026, Yên Bình đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 12,3%

9 tháng năm 2026, Yên Bình đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 12,3%

Trong 9 tháng của năm 2026, xã Yên Bình đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 12,3%, tổng giá trị sản xuất ước đạt 6.577 tỷ đồng, bằng 72% kế hoạch năm. Địa phương đang tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong những tháng cuối năm.

Phong Dụ Thượng tạo sinh kế, giảm nghèo bền vững

Phong Dụ Thượng tạo sinh kế, giảm nghèo bền vững

Ở xã vùng cao Phong Dụ Thượng, giảm nghèo không chỉ là hỗ trợ trước mắt mà đang được địa phương xác định là quá trình lâu dài, trong đó quan trọng nhất là tạo sinh kế để người dân có việc làm, thu nhập và từng bước tự vươn lên. Từ hỗ trợ vốn, cây, con giống, chuyển giao kỹ thuật đến đào tạo nghề, hỗ trợ làm nhà... những cách làm phù hợp với điều kiện thực tế đang mở ra hướng phát triển mới cho nhiều hộ nghèo ở địa phương.

Mở lối thị trường cho sản phẩm OCOP Lào Cai

Mở lối thị trường cho sản phẩm OCOP Lào Cai

Giữa nhịp sống sôi động của đô thị, điểm bán hàng và giới thiệu sản phẩm OCOP của Hợp tác xã Chế biến Nông sản Tây Bắc Hiền Vinh, trên đường Điện Biên, phường Yên Bái, đang trở thành địa chỉ thu hút người dân và du khách. Từ không gian này, nhiều sản vật đặc trưng của địa phương đến gần hơn với người tiêu dùng, mở rộng cơ hội kết nối thị trường.

"Kho báu" trăm tuổi

"Kho báu" trăm tuổi

Giữa đại ngàn Dền Sáng, nơi mây núi bao phủ quanh năm, hơn 1.000 gốc chè Shan tuyết cổ thụ vẫn xanh tươi qua hơn một thế kỷ. Những thân chè sần sùi, phủ rêu phong, vươn cao giữa núi rừng không chỉ lưu giữ dấu ấn của nhiều thế hệ mà còn trở thành “kho báu” được người dân địa phương gìn giữ, chăm sóc.

Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng mạnh

Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng mạnh

Sau nhiều phiên đi ngang và giảm giá, sáng 9/10, vàng miếng và vàng nhẫn các thương hiệu trong nước đồng loạt tăng mạnh. Vàng miếng SJC tăng 1,3 triệu đồng/lượng, lên 141,3-144,3 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Trên thị trường thế giới, vàng cũng hồi phục về quanh mức 4.170 USD/ounce khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ hạ nhiệt.

Giữ chặt địa bàn giáp ranh, bảo vệ tài nguyên sông Hồng

Giữ chặt địa bàn giáp ranh, bảo vệ tài nguyên sông Hồng

Trên sông Hồng, cát, sỏi không chỉ là nguồn nguyên liệu phục vụ xây dựng mà còn là tài nguyên cần được quản lý chặt chẽ, khai thác đúng quy định. Tuy nhiên, với địa bàn trải dài qua nhiều xã, phường, công tác kiểm soát sẽ khó đạt hiệu quả nếu mỗi địa phương chỉ quản lý phần sông thuộc địa giới của mình. Từ thực tế đó, xã Quy Mông và các địa phương giáp ranh đang tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin, kiểm tra và xử lý vi phạm, từng bước khép kín những khoảng trống trong quản lý khoáng sản.

Đồng bào Mông Xanh ở Tu Thượng lần đầu trồng cây vụ đông

Đồng bào Mông Xanh ở Tu Thượng lần đầu trồng cây vụ đông

Vụ đông năm nay, xã Nậm Xé triển khai trồng 20 ha rau, đậu các loại, trong đó thôn Tu Thượng thực hiện 5 ha. Đây là lần đầu đồng bào Mông Xanh tại thôn đưa cây vụ đông vào trồng trên đất ruộng một vụ, từng bước thay đổi tập quán canh tác, tạo thêm nguồn thu cho gia đình.

fb yt zl tw