Thầy thuốc làm thơ

LCĐT  - Ở góc chợ Nguyễn Du (phường Kim Tân, thành phố Lào Cai) có một  ki ốt khá đặc biệt: Không bày bán các mặt hàng tiêu dùng thông thường như những ki ốt khác, mà là nơi bắt mạch, kê đơn, bốc thuốc của một lương y đã qua tuổi “xưa nay hiếm”.

Không trưng bày câu chữ cầu kỳ mang tính quảng cáo, phòng mạch của ông chỉ treo duy nhất chữ “Đức”. Căn nhà gia đình ông ở cũng chỉ treo chữ “Tâm” viết chữ Hán tự. Ông bảo, chữ “Đức”, chữ “Tâm” nói lên tất cả tấm lòng của người thầy thuốc. Cũng như nhiều thầy thuốc đông y khác, ông có cuộc sống nội tâm phong phú nhưng không biểu hiện ra bên ngoài, vì thế cách bài trí phòng mạch của mình không bày biện phô trương hình thức tủ nọ, bàn kia sơn quét hào nhoáng, bóng bẩy mà chỉ có chiếc bàn gỗ và chiếc giường nhỏ đơn sơ dùng bắt mạch, khám bệnh, kê đơn; trên các kệ bằng nhôm kính đặt hộp nhựa trong suốt có nắp đậy đựng từng vị thuốc, đối với những vị thuốc cần tránh tác động của ánh sáng ông dùng loại hộp sẫm màu dày hơn. Dùng loại hộp này, các loại côn trùng như gián, thạch sùng không chui vào làm hỏng thuốc. Bên ngoài các loại hộp đều được ông dán tên dược liệu bằng chữ quốc ngữ, mặc dù là người khá am hiểu Hán Nôm nhưng ông không ghi tên các vị thuốc bằng loại chữ mà các hiệu thuốc đông y vẫn chọn làm thương hiệu. Ông giải thích, dùng tủ thuốc bằng gỗ với nhiều ngăn ô kéo sơn màu nâu gụ ghi tên thuốc bằng Hán tự nhìn quầy thuốc bề thế phù hợp với đặc trưng của thuốc đông nam dược và mang chất bí truyền hơn, nhưng đa số người bệnh không đọc được khi muốn biết thầy thuốc đang bốc thang thuốc cho mình gồm những vị gì, như thế là đánh đố bệnh nhân.

Sau những giờ bắt mạch kê đơn, ông lại tìm đến với những vần thơ.
Sau những giờ bắt mạch kê đơn, ông lại tìm đến với những vần thơ.

Quan sát nơi khám bệnh, kê đơn, bốc thuốc của ông, từ cách sắp đặt đến mọi đồ vật đều giản đơn, mộc mạc như chính con người lương y vậy. Dáng người nhỏ nhắn, trang phục giản dị, sạch sẽ, tính tình điềm đạm, nụ cười hiền hậu, lời nói nhẹ nhàng mang chất giọng đồ nho... toát lên sự chân thành hòa quyện với mùi thơm nồng ấm lan tỏa của các loại thảo dược càng làm cho không khí gian phòng thêm tĩnh tại, khiến nơi đây có một khoảng lặng riêng khác hẳn với sự ồn ào mua bán ở các gian hàng khác của chợ. Gần ba mươi năm gắn bó với nghề bằng vốn hiểu biết từ những bí quyết gia truyền cùng với kiến thức tiếp thu trong sách, trong các lớp bồi dưỡng, tập huấn, người lương y nơi góc chợ chẳng chút giấu giếm về “Đường đời thử thách người xanh tóc/Bến đỗ đợi chờ khách bạc mi” của bản thân mình. Trong bài thơ “Cõi nhân sinh” với sự nhìn nhận nhân sinh quan, ông viết:

Dấn thân vào cõi nhân sinh

Muốn đi cùng tận chữ tình, chữ tâm

Lợi danh, sương khói, bụi trần

Tiếng cười, tiếng khóc trầm luân kiếp người.

Cuộc đời con người là vậy, dẫu ai đó trên thế gian này được đời ưu ái đến mấy cũng không tránh khỏi ít nhiều trầm luân vui buồn trong cuộc sống. Với lương y Đặng Đà cũng không ngoài vòng cương tỏa của đường đời. Sinh ra trong một gia đình nhà nông có chút nghề thuốc đông y gia truyền nhưng Đặng Đà không có ý định theo nghề thân phụ và anh trai đang làm. Học xong cấp III, chàng thanh niên sức vóc chưa đầy bốn mươi cân không đủ điều kiện được tuyển vào đại học những năm sáu mươi thế kỷ trước đành phận gắn bó với ruộng nương. Tưởng rằng số phận đã an bài, nhưng sự sắp định của cuộc đời lại dẫn dắt chàng thanh niên nhỏ thó rẽ sang ngả khác. Với vốn liếng đông y tích cóp được khi chứng kiến những lần cha hoặc anh bắt mạch kê đơn cho người bệnh, trong nhiều lần cha và anh không có nhà, Đặng Đà “liều lĩnh” thử sức mình kê đơn bốc thuốc cho những người bệnh cần gấp. Và họ đã dùng và khỏi bệnh. Kết quả đó cho Đặng Đà nhận ra rằng cuộc đời đã đưa mình bước vào nghề thuốc như một cơ duyên. Xác định nghề thuốc gắn với sinh mạng con người nên Đặng Đà đặt cho mình một chương trình học hỏi nghiêm cẩn. Ông tìm sách học, tìm gặp những thầy thuốc giỏi học thêm. Muốn hành nghề phải được cơ quan tổ chức có thẩm quyền cấp chứng chỉ nên Đặng Đà theo học một lớp tập huấn đông y dài ngày do Hội Y học cổ truyền tỉnh mở và sau này khi ông đã ở tuổi ngũ tuần còn tham dự khóa học hai năm tại Hà Nội do Hội Y học cổ truyền Việt Nam tổ chức.

Những năm đầu bước vào nghề, để tích lũy thêm kiến thức thực hành bổ trợ những điều đã học, Đặng Đà xin vào làm ở cơ sở khám - chữa bệnh y học cổ truyền tại địa phương nơi mình sinh sống. Thực tế đã cho ông tích lũy được nhiều bài học bổ ích, nhiều kinh nghiệm quý. Khi thấy mình đã đủ điều kiện hành nghề, Đặng Đà dấn thân lập nghiệp mở phòng mạch của riêng mình. Thời gian trôi, lương y Đặng Đà thêm tuổi thêm dày uy tín về nghề thuốc của mình. Nhiều người bệnh khi nói về ông đều có chung nhận định: Cởi mở, thân tình trong giao tiếp, cẩn trọng trong chẩn trị. Nhiều người còn nhắc đến chuyện có người bị tắc nghẽn tĩnh mạch, bệnh viện tuyến trên trả về tưởng chừng không qua khỏi đã được ông khám và kê đơn thuốc, sau vài liệu trình, bệnh tình thuyên giảm và dần khỏi. Ông khiêm nhường bảo kết quả chữa được những bệnh nan y là nhờ vào tinh hoa của nền y học phương Đông và sự giàu có của “vườn thuốc” thảo mộc ở khắp mọi nơi trên xứ sở mình đang sống. Ông luôn nhắc nhở người bệnh sử dụng đông nam dược ngoài việc phải thực hiện đúng lời dặn của thầy thuốc còn phải kiên trì và có niềm tin.

Công việc tất bật hằng ngày của người thầy thuốc đông y với những việc phân loại, cắt, thái, nghiền, giã, sao, sấy, bắt mạch, kê đơn, bốc thuốc... nhưng lương y Đặng Đà vẫn dành thời gian cho niềm đam mê thơ phú của mình. Khoảng lặng hằng ngày và những đêm thanh vắng, ông “Tìm thi tứ trằn trọc bên trang viết/Mà hồn còn lưu lạc trong mơ”. Ông quan niệm thơ không những là sự trải lòng mà còn làm cho con người thêm thanh tao, nên thơ là một phần quan trọng trong tâm hồn con người, nhất là đối với người thầy thuốc, thơ là vị thuốc thư giãn sau những giờ phút đối mặt với bệnh tật, thuốc thang cho người bệnh. Ông làm thơ từ khi mười bảy, mưới tám tuổi nhưng cũng chỉ để tự ngâm nga mỗi khi rảnh rỗi, chưa dám gửi đi đâu. Mãi đến khi bạn bè động viên, khích lệ, ông “dũng cảm” gửi một số bài cho các báo và được sử dụng đã kích hoạt niềm đam mê của mình, ông bắt đầu có ý thức làm thơ gửi đăng báo, tạp chí và chọn lọc tập hợp thành tập gửi xuất bản để chia sẻ, giãi bày tâm tư cùng bè bạn. Đến nay, ông đã xuất bản được 4 tập thơ (Rừng mơ, Heo may, Đường đời, Cõi nhân sinh) và thường xuyên có thơ đăng trên các báo, tạp chí. Đọc Đặng Đà cho thấy thơ của ông là sự thao thức với đời, kiếm tìm những điều tốt đẹp trong cõi nhân sinh, vì thế trong bài thơ “Ước vọng”, ông trăn trở:

Gom tất cả tinh hoa cuộc sống

Cất vào tim làm vốn để dành

Vẫn không nguôi nuôi bao ước vọng

Cho câu thơ thai nghén, sinh thành

Nghề thuốc đã luyện cho ông đức tính chỉn chu trong mọi việc. Làm thơ cũng vậy, ông cân nhắc kỹ trong sử dụng câu, chữ. Có lẽ sinh ra ở vùng đất Hà Nam có nhiều bậc khoa bảng kỳ tài vô cùng tôn kính, ông đọc nhiều, thuộc nhiều thơ của các bậc tiền nhân nên ảnh hưởng không nhỏ. Phong cách thơ của ông luôn lấy tiêu chí về niêm luật của các thể thơ truyền thống như Đường luật, tứ tuyệt, lục bát... làm trọng. Và có lẽ, miền quê “cánh có, cánh vạc” đã ngấm vào tâm hồn từ thuở ấu thơ nên thơ ông phảng phất ngôn từ trong ca dao, dân ca vùng châu thổ sông Hồng. Có điều thật lạ, cả mấy trăm bài thơ đã công bố nhưng chưa thấy có bài thơ nào ông viết về nghề mình, việc mình đang làm. Có thể ông tránh tiếng tự khen mình mà muốn để “hữu xạ tự nhiên hương”. Đặng Đà là thế. Không vồn vã, không khoa trương cũng chẳng cáu giận bao giờ, từ tốn từ bước đi, lời nói đến cách ứng xử có lý, có tình. Nghề thuốc chữa trị bệnh tật trong cơ thể con người, làm thơ nâng đỡ tâm hồn con người lành mạnh, trong sáng hơn. Hai trong một con người đồng hành trong cuộc sống đầy ắp tính nhân văn của Đặng Đà. Chữ tâm, chữ đức cùng sự am hiểu về bắt mạch, kê đơn, bốc thuốc chữa bệnh và thi ca là cả một quá trình học hỏi, rèn luyện, tích lũy của thầy thuốc - nhà thơ Đặng Đà, bởi trong ông thường trực chữ tình “Lương y như từ mẫu”.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Đặc sắc Lễ hội đình Làng Dọc

Đặc sắc Lễ hội đình Làng Dọc

Cứ mỗi độ xuân về, người dân xã Việt Hồng lại nô nức tham gia Lễ hội đình Làng Dọc - lễ hội dân gian mang đậm sắc thái văn hóa của người Kinh và người Tày cổ. Đây không chỉ là dịp cầu cho mạ xanh, lúa tốt, mùa màng bội thu mà còn gửi gắm ước vọng về cuộc sống an lành, no ấm, hạnh phúc.

Lễ Xên Đông - nét văn hóa đặc sắc của người Thái Mường Lò

Lễ Xên Đông - nét văn hóa đặc sắc của người Thái Mường Lò

Trong cộng đồng người Thái, lễ Xên Đông (còn gọi là lễ hội cúng rừng) thường được tổ chức vào đầu năm mới. Đây là nghi lễ truyền thống mang ý nghĩa cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đời sống ấm no, vạn vật sinh sôi, thể hiện sự gắn bó hài hòa giữa con người với thiên nhiên.

Lào Cai tăng cường quản lý tổ chức lễ hội đầu xuân Bính Ngọ 2026

Lào Cai tăng cường quản lý tổ chức lễ hội đầu xuân Bính Ngọ 2026

Những ngày đầu Xuân Bính Ngọ 2026, trên khắp các làng bản, phố phường tỉnh của Lào Cai rộn ràng không khí lễ hội; tiếng trống hội tưng bừng, cờ ngũ sắc tung bay hòa quện với khói hương lan tỏa trong nắng sớm. Dòng người thành kính hướng về chùa, đền, đình và các di tích linh thiêng, gửi gắm ước vọng về một năm mới an khang, mùa màng tươi tốt, gia đình ấm no, hạnh phúc.

Bà con chơi kéo co tại Lễ hội Gầu Tào.

Rộn ràng trò chơi dân gian đầu xuân

Tết đến, xuân về, khi những cánh đào phai khoe sắc khắp núi rừng Tây Bắc cũng là lúc các bản làng ở Lào Cai tưng bừng mở hội. Sau phần nghi lễ trang nghiêm, thành kính là phần hội sôi động với những trò chơi dân gian đặc sắc - hoạt động không thể thiếu trong mỗi lễ hội xuân. Tiếng khèn, tiếng trống, tiếng reo hò hòa quyện trong tiết trời xuân tạo nên bức tranh rộn ràng, trở thành điểm nhấn sinh động trong đời sống văn hóa cộng đồng các dân tộc.

Lên Bắc Hà trải nghiệm cùng ngựa đua

Lên Bắc Hà trải nghiệm cùng ngựa đua

Bắc Hà không chỉ nổi tiếng với cảnh quan tươi đẹp, văn hóa chợ phiên, nét cổ kính của Dinh thự Hoàng A Tưởng... mà còn thu hút du khách bởi lễ hội đua ngựa truyền thống - di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Khai mạc Lễ hội Đền Đông Cuông năm 2026

Khai mạc Lễ hội Đền Đông Cuông năm 2026

Trong hai ngày 21 và 22/02/2026 (tức mùng 05 và mùng 06 Tết), UBND xã Đông Cuông tỉnh Lào Cai đã tổ chức Lễ hội đền Đông Cuông năm 2026. Đây là lễ hội tâm linh thường niên, thu hút hàng vạn người dân địa phương và du khách thập phương về tham dự, chiêm bái và trẩy hội đầu xuân.

Lãnh đạo xã Yên Thành thực hiện nghi thức "Tịch điền".

Đặc sắc Lễ hội “Lồng Tồng” ở Yên Thành

Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, đồng bào dân tộc Tày, Nùng trên địa bàn xã Yên Thành lại nô nức xuống đồng thực hiện các nghi thức truyền thống với mong ước về một năm mới mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Sau lễ cúng thần linh và trời đất, Ban tổ chức thực hiện nghi lễ “Tịch điền” để lấy may, lấy phúc cho dân và suôn sẻ cho vụ mùa trong năm.

Xuân về vui hội đình Bằng Là

Xuân về vui hội đình Bằng Là

Cứ vào mồng 04 - mồng 05 tháng giêng hằng năm, khi sắc xuân còn ngập tràn trên khắp các miền quê, người dân xã Chấn Thịnh lại rộn ràng tổ chức Lễ hội đình Bằng Là - một trong những sinh hoạt văn hóa tâm linh tiêu biểu của địa phương.

Ngựa trong văn hóa dân gian người Nùng Dín

Ngựa trong văn hóa dân gian người Nùng Dín

Với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao, con ngựa là vật nuôi gần gũi, thân thiết trong mỗi gia đình. Dù không là "đầu cơ nghiệp" nhưng ngựa cũng được xem là tài sản có giá trị. Người vùng cao nuôi ngựa làm phương tiện thồ hàng, làm sức kéo, thậm chí để đua tài trong dịp lễ hội truyền thống... Sự gắn bó giữa người và ngựa cũng tạo nên những nét văn hóa đặc sắc trong nếp sống của mỗi dân tộc, vùng miền, trong đó có đồng bào Nùng Dín ở Lào Cai.

Du xuân miền di sản

Du xuân miền di sản

Miền di sản văn hóa Mường Lò - vùng đất tổ của người Thái Tây Bắc, nay thuộc các phường Nghĩa Lộ, Trung Tâm, Cầu Thia luôn mang trong mình nét duyên riêng của núi rừng. Nơi đây nổi tiếng bởi vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng và tình người chân thành, mộc mạc. Đặc biệt, những điệu xòe ngày xuân rộn ràng, say đắm lòng người đã trở thành dấu ấn văn hóa đặc trưng, để bất kỳ ai từng đến Mường Lò đều nhớ mãi.

Khắp Thái - Xuân ca giữa Mường Lò

Khắp Thái - Xuân ca giữa Mường Lò

Những ngày đầu xuân, không khí lễ hội rộn rã khắp "lòng chảo" Mường Lò. Bên cánh đồng xanh, nơi bản làng nép mình bên núi, tiếng nói cười hòa cùng nhịp trống, tiếng khèn và đặc biệt là những câu Khắp Thái mượt mà, ngân vang như lời chào mùa mới.

Si Ma Cai khai mạc Lễ hội Gầu tào năm 2026

Si Ma Cai khai mạc Lễ hội Gầu tào năm 2026

Sáng 21/02, tại Chợ văn hóa Cán Cấu, UBND xã Si Ma Cai đã tổ chức khai mạc Lễ hội Gầu tào năm 2026 trong không khí vui tươi, phấn khởi, thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc cùng du khách thập phương tham dự.

Bát Xát: Gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc Dao đỏ

Bát Xát: Gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc Dao đỏ

Ngay trong những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, cộng đồng người Dao đỏ tại xã Bát Xát đã tổ chức các lớp truyền dạy văn hóa dân gian cho thế hệ trẻ. Đây là nỗ lực thiết thực nhằm bảo tồn chữ Nôm Dao và nghi lễ truyền thống, góp phần bồi đắp niềm tự hào dân tộc và tạo nguồn lực phát triển du lịch bền vững tại địa phương.

Nối những mùa hoa

Nối những mùa hoa

Du lịch mùa hoa xuân đang dần khẳng định vị thế là xu hướng nổi bật trong lựa chọn hành trình của nhiều du khách. Với vùng cao Lào Cai, các lễ hội hoa đã và đang từng bước tạo ra được thương hiệu riêng…

fb yt zl tw