Những ngày tháng 10, tiết học của cô và trò tại điểm trường mầm non ở thôn Tà Dông, xã Tú Lệ sinh động hơn. Trên màn hình ti vi kết nối Internet, những bài hát, hình ảnh minh họa cho bài giảng được cô giáo trực tiếp tìm kiếm trên các nền tảng trực tuyến, giúp trẻ dễ dàng tiếp cận nội dung bài học.
Sự thay đổi này đến từ việc Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với chính quyền địa phương và doanh nghiệp liên quan tổ chức lắp đặt, kết nối dịch vụ, đưa thiết bị thu, phát sóng Internet Starlink vào sử dụng.
Cô giáo Hoàng Thị Thu Trang - giáo viên điểm trường Tà Dông, phân hiệu Khau Phạ, Trường Mầm non Tà Dông, xã Tú Lệ cho biết: “Từ khi có Internet, việc tìm kiếm hình ảnh, bài hát phục vụ giảng dạy thuận tiện hơn nhiều. Giáo viên cũng dễ dàng cập nhật thông tin, trao đổi với điểm trường trung tâm, phục vụ tốt hơn công tác chăm sóc, giáo dục trẻ”.
Cùng với điểm trường mầm non tại thôn Tà Dông, điểm trường mầm non tại thôn Kháo Nhà, xã Tú Lệ cũng trong khu vực “lõm” sóng. Địa hình miền núi chia cắt, dân cư phân tán khiến việc đầu tư hạ tầng mạng đến những khu vực này đòi hỏi giải pháp kỹ thuật phù hợp.
Ông Hoàng Trọng Nghĩa - Chủ tịch UBND xã Tú Lệ cho biết: “Xã có những thôn xa trung tâm, địa hình chia cắt nên việc bảo đảm sóng viễn thông còn khó khăn. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận thông tin, ứng dụng công nghệ trong dạy học và đời sống của người dân. Việc đưa thiết bị Starlink đến các điểm trường Tà Dông và Kháo Nhà đã giải quyết phần nào khó khăn trước mắt, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động dạy và học. Đây cũng là tiền đề để xã tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, từng bước thu hẹp khoảng cách tiếp cận thông tin giữa các thôn, bản, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân”.
Không riêng xã Tú Lệ, tại nhiều địa bàn vùng cao trên địa bàn tỉnh, tình trạng “lõm” sóng, trắng sóng vẫn là rào cản đối với việc tiếp cận thông tin và sử dụng các dịch vụ số. Địa hình hiểm trở, giao thông chia cắt, dân cư thưa thớt khiến việc xây dựng hạ tầng viễn thông tại một số khu vực gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở những nơi chưa có điện lưới quốc gia.
Thông qua rà soát, toàn tỉnh có 6 thôn “lõm” sóng, trắng sóng và 17 cơ sở giáo dục công lập còn gặp tình trạng “lõm” sóng di động, trong đó 13 cơ sở đã có điện lưới và 4 cơ sở chưa có điện lưới quốc gia. Trên cơ sở đó, Viettel Lào Cai được giao triển khai xóa “lõm” sóng tại 6 thôn và 11 cơ sở giáo dục; VNPT Lào Cai triển khai tại 6 cơ sở giáo dục còn lại.
Trước thực tế đó, Sở Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với chính quyền địa phương và các doanh nghiệp viễn thông rà soát hiện trạng, xác định nhu cầu, lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện từng khu vực. Trong đó, các phương án chủ yếu tập trung theo hướng kết hợp đầu tư trạm phát sóng di động, sử dụng truyền dẫn vi ba, kết nối vệ tinh tại những vị trí khó kéo cáp quang. Đồng thời, nghiên cứu giải pháp bảo đảm nguồn điện cho các trạm phát sóng ở những nơi chưa có điện lưới.
Ông Vũ Hữu Thắng - Phó Trưởng phòng Bưu chính Viễn thông, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh cho biết: “Đến ngày 2/10/2026, tỉnh đã hoàn thành lắp đặt, bàn giao và đưa vào sử dụng 23 bộ thiết bị Starlink tại 6 thôn, bản và 17 cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn 13 xã. Các điểm được lựa chọn lắp đặt đều nằm trong những khu vực khó khăn về hạ tầng viễn thông. Việc đưa Internet vệ tinh vào sử dụng tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin, kịp thời nắm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thông tin chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương; hỗ trợ thông tin liên lạc, học tập và các hoạt động chuyển đổi số. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn luôn xác định, kết nối Internet vệ tinh không thể thay thế nhiệm vụ phát triển hạ tầng viễn thông mặt đất và mở rộng vùng phủ sóng di động. Vì vậy, cùng với giải pháp hỗ trợ trước mắt, việc đầu tư, xây dựng các trạm phát sóng tại những khu vực có điều kiện tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo đảm thông tin liên lạc ổn định, lâu dài cho người dân”.
Thời gian tới, Sở Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục đôn đốc, phối hợp, hỗ trợ các doanh nghiệp viễn thông hoàn thành kế hoạch phủ sóng đã cam kết; rà soát, cập nhật các điểm “lõm” sóng phát sinh và phối hợp với địa phương đánh giá sát nhu cầu thực tế để lựa chọn phương án xử lý phù hợp. Trong đó, ưu tiên phát triển hạ tầng trạm thu phát sóng di động (BTS) tại những nơi có điều kiện triển khai...