Trung học nghề - tháo “nút thắt” phân luồng sau lớp 9
Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), được Quốc hội thông qua vào tháng 12/2025, lần đầu tiên xác lập mô hình trường trung học nghề như một bậc học song song với THPT. Theo đó, học sinh theo học sẽ được tích hợp chương trình văn hóa cốt lõi của giáo dục phổ thông với đào tạo nghề, hướng tới mục tiêu vừa có trình độ văn hóa, vừa có kỹ năng nghề nghiệp để sẵn sàng gia nhập thị trường lao động hoặc học tiếp ở trình độ cao hơn.
Trước khi có mô hình trung học nghề, học sinh tốt nghiệp THCS chủ yếu đứng trước ba lựa chọn: thi vào THPT công lập, theo học hệ giáo dục thường xuyên hoặc học trung cấp, cao đẳng nghề. Tuy nhiên, các con đường này đều bộc lộ những hạn chế khiến phụ huynh và học sinh chưa thực sự yên tâm.
Trung học nghề được kỳ vọng sẽ tháo gỡ “nút thắt” phân luồng khi học sinh tốt nghiệp được xét tương đương nhóm THPT trong bố trí việc làm và cơ hội học tập.
Học sinh học trung cấp nghề sau lớp 9 thường chỉ đạt trình độ văn hóa 9/12, gặp bất lợi khi tìm việc làm ổn định hoặc khi muốn học tiếp. Trong khi đó, mô hình giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên chỉ cho phép liên thông tối đa lên cao đẳng. Những “điểm nghẽn” này khiến không ít gia đình vẫn lựa chọn “bằng mọi giá” cho con thi vào lớp 10 công lập, dù áp lực ngày càng lớn.
Theo TS Hoàng Ngọc Vinh – nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD&ĐT), tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, hệ thống THPT công lập hiện chỉ đáp ứng được khoảng 60-90% số học sinh tốt nghiệp THCS. “Khi không có lựa chọn tương đương về giá trị bằng cấp và cơ hội học tiếp, tâm lý chạy đua vào lớp 10 là điều khó tránh”, ông Vinh nhận định.
Trong bối cảnh đó, trung học nghề được kỳ vọng sẽ tháo gỡ “nút thắt” phân luồng khi học sinh tốt nghiệp được xét tương đương nhóm THPT trong bố trí việc làm và cơ hội học tập. Khi rào cản bằng cấp được gỡ bỏ, học nghề không còn bị nhìn nhận như một “lối rẽ bất đắc dĩ”, mà trở thành một lựa chọn song song, có giá trị thực chất.
Thực tế, nhiều phụ huynh đã bắt đầu thay đổi quan điểm. Chị Sỹ Hòa (Hà Nội) chia sẻ: “Nếu con tôi không đỗ công lập, tôi cho cháu vào trung học nghề, được học song song văn hóa và nghề, miễn phí. Sau 3 năm có cả bằng nghề và bằng cấp 3. Giờ Luật chính thức công nhận trung học nghề là cơ sở để tin vào chất lượng đào tạo và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp, khi bằng cấp được xác lập tương đương THPT và lộ trình học tập - việc làm trở nên rõ ràng hơn”.
“Làm ra thật” để học nghề là trụ cột của hệ thống giáo dục
Phân tích sâu hơn, TS Hoàng Ngọc Vinh, cho rằng cốt lõi của trung học nghề không nằm ở việc “giảm tải” cho kỳ thi lớp 10, mà ở triết lý “làm ra thật”. Theo ông, muốn trung học nghề thực sự đứng vững thì phải đầu tư thật, dạy thật, học thật, thay vì chạy theo những khẩu hiệu hình thức.
Trung học nghề cần bảo đảm cho người học vừa có tri thức văn hóa nền tảng, vừa có kỹ năng nghề đáp ứng trực tiếp nhu cầu thị trường lao động. Đây cũng là điều mà nhiều chuyên gia quốc tế đã chỉ ra: ở các quốc gia trong giai đoạn công nghiệp hóa, lực lượng luôn thiếu hụt nhất không phải là cử nhân, mà là đội ngũ kỹ thuật viên và lao động kỹ năng.
TS Hoàng Ngọc Vinh cũng thẳng thắn nhìn nhận, xã hội hiện nay đang “cổ vũ” mạnh mẽ cho việc học các ngành công nghệ mới như AI ở trình độ cử nhân. Tuy nhiên, nếu hệ thống giáo dục chỉ chăm chăm leo thang bằng cấp mà không xây dựng được thang bậc kỹ năng rõ ràng, hệ quả sẽ là tình trạng nhiều người “cầm bằng đi tìm việc”, trong khi doanh nghiệp lại “cầm việc đi tìm người”.
TS Hoàng Ngọc Vinh: Muốn trung học nghề thành công thì phải đầu tư thật, dạy thật, học thật.
Muốn trung học nghề thành công thì phải đầu tư thật, dạy thật, học thật, không thể chạy theo những khẩu hiệu sáo rỗng. Trung học nghề phải bảo đảm cả tri thức nền tảng lẫn kỹ năng nghề, đáp ứng yêu cầu thực tế của thị trường lao động”, TS Hoàng Ngọc Vinh nhấn mạnh.
Từ góc nhìn cấu trúc hệ thống, TS Lê Viết Khuyến - Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam cho rằng việc xác lập cấp trung học nghề không chỉ nhằm giảm áp lực cho kỳ thi lớp 10, mà còn xuất phát từ bài toán dài hạn của thị trường lao động.
Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ ở Việt Nam mới đạt khoảng 28,8%, trong khi cả nước vẫn còn gần 38 triệu lao động chưa được đào tạo bài bản. “Nếu không tổ chức phân luồng hiệu quả ngay sau THCS và nâng tầm giáo dục nghề nghiệp, Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội chuyển mình về chất lượng nguồn nhân lực”, TS Khuyến nhấn mạnh.
Theo ông, trung học nghề cho phép học sinh tiếp cận kỹ năng nghề từ sớm, tốt nghiệp ở độ tuổi 18 – đủ điều kiện gia nhập thị trường lao động - đồng thời vẫn giữ cánh cửa học lên cao hơn nếu có nhu cầu. Đây là điểm khác biệt căn bản so với các mô hình trước đây.
TS Khuyến cũng cho rằng cần sắp xếp lại hệ thống trình độ đào tạo theo hướng rõ ràng: trung học nghề tích hợp đào tạo văn hóa và nghề nghiệp trong 3 năm; trung cấp nghề dành cho người đã tốt nghiệp THPT. Cách phân tầng này nhằm khắc phục tình trạng “trắng nghề” ở những người chỉ có bằng tốt nghiệp phổ thông nhưng không được đào tạo kỹ năng. “Phân luồng không rõ ràng thì dù có bằng tốt nghiệp phổ thông, người học vẫn không có nghề trong tay”, TS Khuyến nhấn mạnh.
Dù vậy, các chuyên gia cũng lưu ý, để trung học nghề thực sự đi vào cuộc sống, thách thức lớn nhất vẫn nằm ở khâu tổ chức thực hiện: từ đội ngũ giáo viên, chương trình đào tạo đến liên kết với doanh nghiệp. Nếu không có đầu tư bài bản và sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, mô hình này khó tạo được niềm tin xã hội.
Từ kinh nghiệm quốc tế, nhiều quốc gia cho thấy phân luồng sớm và rõ ràng mang lại hiệu quả bền vững. Trung học nghề vì thế không phải là con đường “thấp hơn” THPT, mà là một hướng đi song song, phù hợp với năng lực và định hướng của từng học sinh.
Có thể khẳng định, trung học nghề sẽ chỉ thành công khi được triển khai như một trụ cột thực sự của hệ thống giáo dục, chứ không dừng ở việc “đổi tên” hay giảm áp lực thi cử. Khi phân luồng trở thành lựa chọn tự nhiên, cuộc đua vào lớp 10 mới thực sự hạ nhiệt và bài toán nguồn nhân lực mới có lời giải lâu dài.