Quy định mới về phân loại đô thị

Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2026/NĐ-CP ngày 22/1/2026 quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết về phân loại đô thị.

Quy định về phân loại đô thị
Quy định về phân loại đô thị

Đô thị hiện hữu là các đô thị đã được cấp có thẩm quyền công nhận hoặc xác định loại đô thị theo quy định của Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15.

Đô thị mở rộng là đô thị hiện hữu và khu vực mở rộng liền kề có phạm vi ranh giới được xác định theo quy hoạch chung đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Phát triển đô thị tăng trưởng xanh là việc quy hoạch, đầu tư xây dựng đô thị bảo đảm các nội dung về tăng trưởng xanh, hạ tầng xanh, không gian xanh và các công trình xanh theo quy định, phù hợp với từng vùng, miền và từng đô thị trong từng giai đoạn nhất định.

Nguyên tắc phát triển đô thị

Nghị định quy định phát triển đô thị phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

1- Phù hợp với quy hoạch tỉnh, thành phố, quy hoạch đô thị và nông thôn theo từng cấp độ quy hoạch, phù hợp với chương trình, kế hoạch phát triển đô thị theo từng thời kỳ và theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng vùng, miền.

2- Việc phát triển đô thị bao gồm cải tạo, chỉnh trang đô thị, mở rộng đô thị và phát triển đô thị mới phải bảo đảm quốc phòng, an ninh và đáp ứng các yêu cầu, tiêu chí tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, phát triển bền vững theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan; việc quy hoạch phát triển các đô thị phải gắn với bảo vệ tài nguyên nước, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu, không vượt ngưỡng khai thác dưới đất theo quy định pháp luật về tài nguyên nước.

3- Thực hiện khai thác và sử dụng hiệu quả đất đai; ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hợp tác quốc tế vào hoạt động quản lý, đầu tư phát triển đô thị; kết nối đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và hạ tầng số, bảo đảm phát triển đô thị hiện đại và văn minh; việc đánh giá và phân loại đô thị được thực hiện theo quy định của Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 và Nghị định này.

4- Phát triển đô thị phải đáp ứng yêu cầu giữ gìn, bảo tồn các giá trị đặc trưng đô thị về lịch sử, truyền thống, di sản, công trình kiến trúc có giá trị; duy trì, phát triển không gian xanh, mặt nước, cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ môi trường, hành lang thoát lũ, bảo vệ đê điều và tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan; tạo môi trường sống tốt cho cư dân tại đô thị, bảo đảm hài hòa lợi ích cộng đồng, Nhà nước và nhà đầu tư.

5- Căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đưa nội dung kế hoạch phát triển đô thị trong nội dung của chương trình phát triển đô thị hoặc xây dựng kế hoạch riêng; trường hợp đưa vào nội dung chương trình phát triển đô thị thì phải đáp ứng các nội dung và yêu cầu quy định tại Điều 7 của Nghị định này; trường hợp xây dựng kế hoạch riêng thì thực hiện theo quy định tại Điều 7 và Điều 8 của Nghị định này.

6- Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và vùng kinh tế - xã hội xác định tỷ lệ đô thị hóa theo quy định pháp luật về chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và quy định tại Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15.

3 nhóm tiêu chí phát triển đô thị tăng trưởng xanh

Đô thị tăng trưởng xanh phải đảm bảo 3 nhóm tiêu chí sau:

1- Nhóm tiêu chí hạ tầng xanh tại đô thị bao gồm: Tỷ lệ vận tải hành khách công cộng; tỷ lệ xe buýt sử dụng năng lượng xanh; tỷ lệ phương tiện giao thông cá nhân hạn chế phát thải; đường dành riêng cho xe đạp; tỷ lệ đường đô thị sử dụng các thiết bị và công nghệ tiết kiệm năng lượng hoặc sử dụng năng lượng tái tạo để chiếu sáng; tỷ lệ dân số được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung; diện tích đất cây xanh công cộng bình quân đầu người.

2- Nhóm các tiêu chí về môi trường tại đô thị bao gồm: Chỉ số chất lượng không khí; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, vận chuyển và xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; tỷ lệ nước thải sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; tỷ lệ ngày trong năm có nồng độ bụi siêu mịn và bụi mịn trong môi trường không khí vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường cho phép.

3- Nhóm các tiêu chí về năng lượng và giảm phát thải tại đô thị bao gồm: Tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng đô thị; tỷ lệ nhà dân sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu; số lượng công trình xanh.

Ưu đãi thực hiện phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu

Nghị định quy định ưu đãi về tài chính và quỹ đất... để thực hiện phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Ưu đãi về tài chính để thực hiện phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu:

Dự án đầu tư xây dựng tại đô thị, tùy theo mục đích, tính chất của dự án nếu có thực hiện tiêu chí tăng trưởng xanh theo quy định tại Nghị định này thì được Nhà nước bảo lãnh tín dụng để vay vốn đầu tư thực hiện dự án theo quy định; được vay vốn ưu đãi từ quỹ bảo vệ môi trường, các quỹ khác liên quan đến tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu theo quy chế của quỹ và quy định của pháp luật;

Chủ đầu tư dự án được hưởng các chính sách hoàn thuế, khấu trừ thuế hoặc được miễn, giảm thuế khi đầu tư vào các hạng mục hạ tầng xanh, công trình xanh, tiết kiệm năng lượng, xử lý nước thải, rác thải theo quy định của pháp luật.

Ưu đãi về quỹ đất và đào tạo nâng cao năng lực về quản lý phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu:

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ưu tiên bố trí quỹ đất đã giải phóng mặt bằng theo quy hoạch để đầu tư các dự án xây dựng hạ tầng xanh, công trình công cộng sử dụng năng lượng sạch theo quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm bố trí ngân sách của địa phương để hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý đô thị trong lĩnh vực phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn.

Các ưu đãi khác theo quy định pháp luật và của địa phương.

Thủ tục công nhận loại đô thị

Nghị định số 35/2026/NĐ-CP quy định các trường hợp lập đề án công nhận loại đô thị bao gồm: Công nhận đô thị loại I và công nhận đô thị loại II, đô thị loại III.

Trình tự, thủ tục đề nghị công nhận đô thị loại I

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh tổ chức lập đề án công nhận đô thị loại I; trường hợp thuê đơn vị tư vấn thì thực hiện theo quy định pháp luật về đấu thầu.

Cơ quan hoặc đơn vị tư vấn được giao lập đề án công nhận loại đô thị (đơn vị lập đề án) tổ chức khảo sát, lập đề án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 19 của Nghị định này. Trường hợp đơn vị lập đề án không phải là Sở Xây dựng thì phải có văn bản kèm theo thuyết minh đề án gửi Sở Xây dựng để thẩm tra.

Trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề án kèm theo văn bản của đơn vị lập đề án, Sở Xây dựng có trách nhiệm rà soát, kiểm tra, đánh giá sơ bộ thuyết minh đề án, gửi lấy ý kiến của Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh và các Sở, ngành chuyên môn thuộc tỉnh. Văn bản gửi lấy ý kiến phải ghi rõ nội dung cần lấy ý kiến theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được lấy ý kiến; trường hợp Sở Xây dựng lập đề án thì Sở Xây dựng có trách nhiệm gửi lấy ý kiến của các cơ quan quy định tại mục này.

Trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến của Sở Xây dựng, các cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm gửi văn bản góp ý về Sở Xây dựng để thẩm tra.

Trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản góp ý, Sở Xây dựng thực hiện thẩm tra đề án hoặc hoàn thiện đề án nếu trực tiếp lập đề án. Trường hợp đơn vị tư vấn lập đề án thì Sở Xây dựng gửi thông báo kết quả thẩm tra đến đơn vị tư vấn để hoàn thiện, trong thông báo phải xác định rõ thời gian hoàn thiện đề án và gửi Sở Xây dựng xem xét để báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Hồ sơ Sở Xây dựng gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bao gồm: Tờ trình và báo cáo thẩm tra, thuyết minh đề án và bảng tổng hợp giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý.

Sau khi nhận được hồ sơ trình của Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua đề án. Hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cùng cấp bao gồm: Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thuyết minh đề án. Thời gian trình và thời gian Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua đề án được thực hiện theo quy định của quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân.

Trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc, kể từ ngày có Nghị quyết thông qua đề án của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi 01 bộ hồ sơ đến Bộ Xây dựng để tổ chức thẩm định và công nhận đô thị loại I.

Trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Xây dựng ban hành quyết định thành lập Hội đồng thẩm định liên ngành để tổ chức thẩm định đề án.

Thời gian Hội đồng thẩm định thực hiện thẩm định và báo cáo Bộ Xây dựng tối đa là 30 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành quyết định thành lập Hội đồng thẩm định.

Sau khi thẩm định, bao gồm cả trường hợp phải hoàn thiện hồ sơ (nếu có), cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định có báo cáo kèm theo hồ sơ gửi Bộ Xây dựng.

Trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng xem xét, ban hành quyết định công nhận đô thị loại I.

Trong thời hạn tối đa 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định công nhận đô thị loại I của Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức công bố quyết định công nhận loại đô thị.

Trình tự, thủ tục đề nghị công nhận đô thị loại II, loại III

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh tổ chức lập đề án công nhận loại đô thị có phạm vi ranh giới nhiều hơn 01 đơn vị hành chính cấp xã hoặc giao Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lập đề án công nhận loại đô thị trong trường hợp công nhận loại đô thị có phạm vi ranh giới trong 01 đơn vị hành chính cấp xã đó; trường hợp thuê đơn vị tư vấn lập đề án thì thực hiện theo pháp luật về đấu thầu.

Đơn vị lập đề án tổ chức khảo sát, lập đề án và báo cáo theo quy định.

Trường hợp đơn vị lập đề án không phải là Sở Xây dựng thì sau khi hoàn thành dự thảo thuyết minh đề án, đơn vị lập đề án gửi lấy ý kiến của Sở Xây dựng về dự thảo thuyết minh đề án; trong thời hạn tối đa 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Sở Xây dựng có trách nhiệm gửi văn bản góp ý. Trong thời hạn tối đa 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Sở Xây dựng, đơn vị lập đề án phải hoàn thiện dự thảo thuyết minh đề án.

Trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thuyết minh đề án đã được hoàn thiện, Sở Xây dựng có trách nhiệm rà soát hồ sơ; nếu hồ sơ đủ điều kiện thì gửi 1 bộ hồ sơ cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để tổ chức thẩm định.

Trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định thành lập Hội đồng thẩm định liên ngành để tổ chức thẩm định đề án và giao cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm thường trực Hội đồng.

Trường hợp phải hoàn thiện hồ sơ đề án theo Báo cáo thẩm định của Hội đồng thẩm định thì trong thời gian tối đa 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Báo cáo thẩm định, đơn vị lập đề án phải hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu và gửi lại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xem xét, trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Trường hợp không đủ điều kiện công nhận loại đô thị thì Hội đồng thẩm định có thông báo gửi Sở Xây dựng và đơn vị lập đề án nêu rõ lý do.

Trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của Hội đồng thẩm định liên ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua đề án. Thời gian Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua đề án thực hiện theo quy định về quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân.

Trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc, kể từ ngày có Nghị quyết thông qua đề án của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định công nhận loại đô thị theo quy định.

Trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành quyết định công nhận loại đô thị, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức công bố quyết định trên địa bàn nơi được công nhận loại đô thị.

Theo baochinhphu.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Hoà bình trong trái tim người trẻ

Hoà bình trong trái tim người trẻ

“Hòa bình không phải tự nhiên mà có” - có lẽ đó là điều thế hệ trước luôn muốn nhắn nhủ với thế hệ sau, để mỗi người trẻ hôm nay biết trân trọng hơn một đất nước hoà bình mình đang có, biết ơn những hy sinh của thế hệ cha ông và hiểu rằng bình yên hôm nay cũng đi cùng một trách nhiệm.

Việc quản lý, sắp xếp, xử lý tài sản công, các cơ sở nhà đất dôi dư là một nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện

Việc quản lý, sắp xếp, xử lý tài sản công, các cơ sở nhà đất dôi dư là một nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện

Đó là ý kiến chỉ đạo của đồng chí Ngô Hạnh Phúc - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh tại cuộc họp sáng 19/8 về tổ chức họp đánh giá tình hình quản lý, sử dụng tài sản công và tiến độ xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư trên địa bàn tỉnh. 

Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai tham gia thảo luận các dự án luật quan trọng và Chương trình mục tiêu quốc gia

Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai tham gia thảo luận các dự án luật quan trọng và Chương trình mục tiêu quốc gia

Sáng 19/8, Quốc hội khóa XVI bước vào đợt 2 Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất. Quốc hội nghe các tờ trình và báo cáo ý kiến về định hướng xây dựng, sửa đổi nhiều dự án Luật quan trọng gồm: Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản. Đồng thời, Quốc hội cũng xem xét phương án tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình thống nhất trước khi tiến hành thảo luận tại Tổ.

Lào Cai rà soát, hoàn thiện công tác chuẩn bị hội nghị Hợp tác hành lang kinh tế lần thứ XII

Lào Cai rà soát, hoàn thiện công tác chuẩn bị hội nghị Hợp tác hành lang kinh tế lần thứ XII

Sáng 19/8, đồng chí Giàng Quốc Hưng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp rà soát công tác tổ chức Hội nghị Hợp tác hành lang kinh tế 5 tỉnh, thành phố: Lào Cai, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh (Việt Nam) - Vân Nam (Trung Quốc) lần thứ XII dự kiến diễn ra trong 2 ngày 23 - 24/8.

Khát vọng Lào Cai

Khát vọng Lào Cai

Cách đây 81 năm, Cách mạng Tháng Tám thành công, đất nước giành độc lập, đồng bào các dân tộc tỉnh Lào Cai đoàn kết, ra sức thi đua phấn đấu bảo vệ trị an, phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, con người mới. Hôm nay, trong kỷ nguyên đất nước vươn mình, phát triển giàu mạnh, Lào Cai tập trung thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện, trở thành cực tăng trưởng, trung tâm kết nối giao thương giữa Việt Nam và các nước ASEAN với vùng Tây Nam (Trung Quốc).

Sáng niềm tin quê hương cách mạng

Sáng niềm tin quê hương cách mạng

Mỗi độ tháng Tám, khi những cơn gió heo may đầu mùa mang theo nắng vàng như mật rải khắp nẻo quê hương, ký ức về mùa thu lịch sử năm 1945 lại trở về trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam. Đó là mùa thu của độc lập, của niềm tin và khát vọng tự do được thắp lên từ hàng triệu trái tim yêu nước. 

Chỉ thị số 07-CT/TW - Bước phát triển mới trong tư duy về xây dựng Đảng và quản trị quốc gia trong kỷ nguyên mới

Chỉ thị số 07-CT/TW - Bước phát triển mới trong tư duy về xây dựng Đảng và quản trị quốc gia trong kỷ nguyên mới

Ngày 13/7/2026, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Chỉ thị tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng của học tập và làm theo Bác trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời đặt ra yêu cầu cụ thể hơn, gắn chặt hơn với năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện và trách nhiệm phục vụ Nhân dân.

Vì cuộc sống bình yên

Vì cuộc sống bình yên

81 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng Công an nhân dân luôn xác định Nhân dân là nguồn sức mạnh, chỗ dựa để bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Trong điều kiện mới, tinh thần ấy đang được Công an tỉnh cụ thể hóa bằng nhiều cách làm thiết thực, hướng mạnh về cơ sở, phát huy vai trò của mỗi người dân, mỗi cộng đồng dân cư, từng bước xây dựng thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Phải có tiềm lực và sức mạnh để bảo vệ hòa bình

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Phải có tiềm lực và sức mạnh để bảo vệ hòa bình

Nhân kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh 2/9 (2/9/1945 -2/9/2026), chiều 18/8, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương và Đoàn công tác của Trung ương đã đến thăm và làm việc với Sư đoàn Bộ binh cơ giới 308, Quân đoàn 12 (Bộ Quốc phòng).

fb yt zl tw