Liên quan vấn đề giá thuốc, thiết bị y tế, Thứ trưởng Y tế Vũ Mạnh Hà cho biết, trước hết, thông qua các cơ quan chức năng và cơ quan báo chí, Bộ Y tế đã thấy việc giá thiết bị y tế, giá thuốc trước khi nhập về trong nước đã được nâng so nước ngoài. Bộ Y tế đã phối hợp các cơ quan chức năng thông tin và cung cấp nội dung liên quan theo yêu cầu của cơ quan chức năng trong vụ việc này. Về cơ chế kiểm soát giá cũng như cơ chế khi nhập khẩu thiết bị y tế và thuốc, Bộ Y tế thông tin một số nội dung:
Việc quản lý giá thiết bị y tế, thuốc lý giá thiết bị y tế, thuốc nhập khẩu được quy định trách nhiệm theo từng khâu, từ giá nhập khẩu, giá kê khai đến đấu thầu, mua sắm và cuối cùng là sử dụng, thanh toán tại các cơ sở y tế. Đối với thiết bị y tế, hiện nay được quản lý theo Nghị định số 98/2021/NĐ-CP và phân loại theo mức độ rủi ro thành 4 loại A, B, C, D.
Với thiết bị loại A, B, doanh nghiệp tự công bố; đối với loại C, D, Bộ Y tế cấp số lưu hành. Số lượng thiết bị y tế lưu hành hiện rất lớn và đa dạng, từ máy móc, thiết bị đến các dụng cụ y tế nhỏ, thiết bị thông minh và các dụng cụ sinh học. Theo pháp luật hiện hành, không thực hiện cơ chế Nhà nước định giá đối với toàn bộ thiết bị y tế mà quản lý theo pháp luật về giá, đấu thầu, hải quan, thuế và các quy định pháp luật có liên quan.
Đối với khâu nhập khẩu, áp dụng chung cho cả thiết bị y tế và thuốc, tổ chức, cá nhân nhập khẩu có trách nhiệm khai báo và chịu trách nhiệm về tính chính xác của giá trị khai báo. Việc kiểm tra, xác định trị giá hải quan được thực hiện theo pháp luật về hải quan và thuế. Trường hợp có hành vi tạo lập khâu trung gian ở nước ngoài nâng giá thiết bị nhập, khi hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam thì việc phát hiện, xử lý, xác minh cần xem xét theo pháp luật về hải quan, về thuế cũng như kế toán và các quy định có liên quan. Việc này đòi hỏi có sự phối hợp liên ngành giữa Bộ Y tế, Bộ Tài chính, thuế, hải quan và các bộ ngành có liên quan.
Đối với thuốc, giá được quản lý và giám sát theo cả vòng đời, từ sản xuất, nhập khẩu, phân phối đến mua sắm, sử dụng tại các cơ sở y tế. Ngay từ đầu vào, cơ sở sản xuất, nhập khẩu đã công bố giá bán buôn dự kiến đối với thuốc kê đơn; cơ sở bán buôn không được bán cao hơn mức giá đã công bố. Bộ Y tế rà soát các mức giá này so với giá thuốc tương tự trên thị trường và trị giá trúng thầu của chính thuốc đó.
Kết quả trúng thầu thuốc tại các cơ sở y tế được công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Riêng cơ chế đàm phán giá và mua sắm tập trung cấp quốc gia trong thời gian vừa qua đã tiết kiệm khoảng 6.000 tỷ đồng.
Về giải pháp thời gian tới theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; Bộ cũng đã tham gia ý kiến đối với các nội dung liên quan. Dự kiến tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI trong tháng 10 này, Bộ Y tế tham mưu Chính phủ sửa đổi luật, trong đó có các quy định liên quan quản lý thiết bị y tế và dược, đặc biệt là Điều 113 của Luật Khám, chữa bệnh.
Đối với thiết bị y tế, một số giải pháp căn cơ, toàn diện gồm:
Thứ nhất, quản lý thiết bị y tế theo vòng đời sản phẩm, từ phân loại, nghiên cứu, sản xuất, thử nghiệm, lưu hành, kinh doanh, phân phối, quảng cáo đến sử dụng, thu hồi, tiêu hủy.
Thứ hai, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về quản lý thiết bị y tế, chuẩn hóa dữ liệu từ số lưu hành, phân phối đến giá, báo giá niêm yết khi thiết bị vào Việt Nam, giúp các cơ sở mua sắm có thêm thông tin tham khảo.
Thứ ba, kê khai, cập nhật và công khai danh sách các cơ sở phân phối, kinh doanh trên một cổng thông tin để các cơ sở y tế có thêm thông tin về giá thiết bị y tế tại Việt Nam.
Thứ tư, tiếp tục nghiên cứu áp dụng cơ chế mua sắm tập trung, đàm phán giá đối với một số nhóm sản phẩm, thiết bị đặc thù, nhất là thiết bị y tế đắt tiền, thiết bị có tính độc quyền hoặc chỉ có một hãng cung cấp tại Việt Nam.
Thứ năm, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án quản lý thiết bị y tế, áp dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số để hoàn thiện công tác quản lý.
Đối với thuốc, Bộ Y tế tập trung sửa đổi, hoàn thiện một số nội dung trong pháp luật hiện hành, trong đó:
Tăng cường mua sắm tập trung thuốc cấp quốc gia, nhất là đối với những nhóm thuốc sử dụng nhiều tại các cơ sở y tế như thuốc kháng sinh; áp dụng đàm phán giá để tiết kiệm chi phí ngân sách Nhà nước. Thúc đẩy sản xuất thuốc trong nước, nhất là thuốc biệt dược gốc, thuốc sinh học thông qua chuyển giao công nghệ, qua đó chủ động nguồn cung.
Đẩy mạnh xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về dược cũng như thiết bị y tế, Hoàn thiện đề án về dược gắn với khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và thiết bị y tế, nhằm xây dựng hệ thống quản lý thông suốt, hiệu quả.
Mục tiêu cuối cùng của công tác quản lý là nâng cao hiệu quả điều hành của Bộ Y tế, đưa thuốc chất lượng với giá phù hợp đến người dân, đồng thời không để đứt gãy chuỗi cung ứng. Việt Nam phải bảo đảm cung cấp đầy đủ thiết bị y tế và thuốc thiết yếu cho người dân.
Số liệu cho đến ngày 30/9 vừa qua, tổng dư nợ của hệ thống các tổ chức tín dụng là khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so cuối năm ngoái và tăng 16,69% so cùng kỳ năm ngoái. Điều này phù hợp mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước đề ra cho cả năm nay.
Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tạo dư địa cho các tổ chức tín dụng để có thể cấp tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên và các công trình, dự án trọng điểm của nền kinh tế, hỗ trợ cho tăng trưởng.
Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước đã có hướng dẫn để các tổ chức tín dụng chủ động khi cấp tín dụng cho các loại hình, nhu cầu quan trọng như nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất, các nhà hàng, khách sạn, khu du lịch sinh thái, khu nghỉ dưỡng. Đối với dư nợ phát sinh trong lĩnh vực này, không tính vào dư nợ tín dụng cần phải kiểm soát.
Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước cũng hướng dẫn các ngân hàng thương mại chủ động không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, có tính chất lan tỏa, tính chất liên kết giữa các vùng, các địa phương và thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Chỉ đạo và khuyến khích các ngân hàng thương mại chủ động đăng ký và tham gia các chương trình tín dụng hướng tới các động lực tăng trưởng của nền kinh tế và các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Với 4 ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên đăng ký, đến nay đã có 19 ngân hàng thương mại thông báo tham gia chương trình với quy mô khoảng 409 nghìn tỷ đồng. Theo số liệu thống kê hiện nay, đã có 10 ngân hàng giải ngân cho khách hàng, với tổng số 12.900 lượt khách hàng có dư nợ. Tổng dư nợ đạt được khoảng 18,6 nghìn tỷ đồng, với mức lãi suất là thấp hơn từ 1-3,6% so mức lãi suất cho vay thông thường của chính các ngân hàng thương mại.
Ngoài ra, một chương trình nữa là chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng đang được triển khai tích cực, với lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất cho vay cùng kỳ hạn của các ngân hàng thương mại tham gia chương trình tối thiểu 1%. Đến nay chương trình đã giải ngân được khoảng 5.000 tỷ đồng.
Trong thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế thế giới tiếp tục có những diễn biến hết sức phức tạp, khó lường. Đây là quý cuối của năm, quý mang tính quyết định để hoàn thành và về đích các mục tiêu năm 2026. Để góp phần cùng Chính phủ, các cấp, các ngành thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, trong quý IV, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chủ động rà soát, chỉnh sửa, hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách về tín dụng chung cho các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại, cũng như các cơ chế chính sách cho các ngành, lĩnh vực cụ thể để tạo thuận lợi trong việc cho vay cũng như tiếp cận vốn vay.
Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ chỉ đạo các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại:
Thứ nhất, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực là động lực của tăng trưởng kinh tế, đồng thời kiểm soát chặt chẽ đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Thứ hai, tích cực triển khai các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước cũng như kịp thời triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp.
Thứ ba, các tổ chức tín dụng cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, quy trình cũng như tăng cường áp dụng công nghệ số để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.
Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại, ngành ngân hàng sẽ đẩy mạnh các chương trình tín dụng như sau:
Thứ nhất, tín dụng với lãi suất ưu đãi hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thứ hai, chương trình cho vay đối với lĩnh vực nông-lâm-thủy sản, chương trình này được triển khai trong năm qua cũng đạt được kết quả rất là khả quan và hỗ trợ rất tích cực cho người vay trong các lĩnh vực ưu tiên.
Thứ ba, chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long như tôi đã đề cập số liệu thông tin ở phần trên.
Thứ tư, các chương trình tín dụng, đầu tư về hạ tầng điện, giao thông, công nghệ chiến lược.
Thứ năm, chương trình cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33/NQ-CP của Chính phủ cũng sẽ tiếp tục được triển khai tích cực.
Ngoài tín dụng thương mại của hệ thống các tổ chức tín dụng, của các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chỉ đạo và hỗ trợ cho Ngân hàng Chính sách Xã hội đẩy mạnh công tác tín dụng chính sách cho các đối tượng thuộc các chương trình mục tiêu theo đúng chỉ đạo của Chính phủ.