Quốc hội khóa VI (1976-1981) ra đời trong điều kiện đất nước thống nhất, sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại là tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước - Quốc hội khóa VI.
Quốc hội đã quyết định những vấn đề quan trọng hàng đầu trong thời kỳ phát triển mới của dân tộc; quyết định về đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam thống nhất; quyết định xây dựng Hiến pháp, về cơ cấu lãnh đạo của Nhà nước khi chưa có Hiến pháp mới, bầu các cơ quan đó để điều hành công việc chung của cả nước.
Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về tên nước, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca và tổ chức Nhà nước khi chưa có Hiến pháp mới.
Quốc hội quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết định khóa Quốc hội được bầu trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 25/4/1976 là Quốc hội khoá VI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết định chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn-Gia Ðịnh là Thành phố Hồ Chí Minh.
Sự ra đời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mở đầu cho bước phát triển mới trong quá trình đi lên của đất nước.
Quốc hội khóa VI đã có những đóng góp tích cực vào việc xây dựng hệ thống chính quyền mới ở miền Nam, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất bảo vệ chính quyền trong điều kiện hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc. Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI đã thông qua Hiến pháp năm 1980.
Số liệu cơ bản
Ngày bầu cử: 25/4/1976
Tỷ lệ cử tri bỏ phiếu: hơn 23 triệu người
Tổng số đại biểu được bầu: 492
Thành phần đại biểu Quốc hội
Công nhân: 80
Nông dân: 100
Tiểu thủ công nghiệp: 6
Quân đội: 54
Cán bộ chính trị: 141
Trí thức và nhân sĩ: 98
Các tôn giáo: 13
Ðảng viên: 398
Ngoài Ðảng: 94
Phụ nữ: 132
Dân tộc thiểu số: 67
Anh hùng lao động và chiến đấu: 29
Thanh niên: (từ 20-30 tuổi): 58
Cán bộ ở Trung ương: 114
Cán bộ ở địa phương: 378
CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT
Quốc hội khóa VI kéo dài 5 năm (1976-1981), với 7 kỳ họp
Kỳ họp thứ nhất
Họp từ ngày 24/6 đến 3/7/1976, tại Hà Nội.
Quốc hội thành lập 6 Ủy ban của Quốc hội: Ủy ban kế hoạch và ngân sách; Ủy ban dự án pháp luật; Ủy ban dân tộc; Ủy ban văn hóa và giáo dục; Ủy ban y tế và xã hội; Ủy ban đối ngoại.
Kỳ họp thứ 7
Từ ngày 12 đến 26/12/1980, Quốc hội đã thông qua Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hiến pháp mới - Hiến pháp 1980
Các văn bản pháp quy đã thông qua
1 Hiến pháp, 1 luật, 4 pháp lệnh
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 (ban hành ngày 19/12/1980)
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (ban hành ngày 20/12/1980).
Pháp lệnh về việc Xin ân giảm án tử hình và xét duyệt án tử hình (ban hành ngày 2/12/1978).
Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (ban hành ngày 21/11/1979).
Pháp lệnh sửa đổi và bổ sung một số điểm về thuế công thương nghiệp và thuế sát sinh (ban hành ngày 26/4/1980).
Pháp lệnh sửa đổi và bổ sung một số điều khoản của Pháp lệnh năm 1961 quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp (ban hành ngày 22/1/1981)
Các hiệp định, hiệp ước, công ước quốc tế đã phê chuẩn:
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào (ban hành ngày 15/9/1977)
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Lào (ban hành ngày (15/9/1977).
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị giữa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ Ðức (ban hành ngày 13/12/1977).
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô (ban hành ngày 29/11/1978).
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia (ban hành ngày 23/2/1979).
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Liên Xô (ban hành ngày 28/6/1979).
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Mông Cổ (ban hành ngày 18/12/1979).
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Ba Lan (ban hành ngày 18/12/1979).
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự Việt Nam và Bulgaria (ban hành ngày 18/12/1979).
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ Ðức (ban hành ngày 18/12/1979)
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Mông Cổ (ban hành ngày 18/12/1979)
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Tiệp Khắc (ban hành ngày 27/3/1980).
XÂY DỰNG VÀ THÔNG QUA HIẾN PHÁP MỚI
Với trách nhiệm cao cả trước vận mệnh dân tộc, Quốc hội khóa VI đã soạn thảo và thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam-Hiến pháp năm 1980.
Hiến pháp mới đã thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IV của Đảng. So với Hiến pháp năm 1959, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội về cơ bản không thay đổi, nhưng về cơ cấu tổ chức của Quốc hội có sự thay đổi lớn. Đó là việc thiết lập Hội đồng Nhà nước thay cho chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội và bổ sung vị trí Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội.
Bên cạnh đó, Quốc hội khóa VI còn thông qua Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 5 pháp lệnh, là cơ sở pháp lý phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm quyền lực của Nhân dân theo tinh thần của Hiến pháp và pháp luật.
THÔNG QUA CÁC NGHỊ QUYẾT QUAN TRỌNG
Ngày 2/7/1976, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI đã thông qua các nghị quyết quan trọng về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô, Quốc ca của nước Việt Nam thống nhất. Theo đó, tên nước được đổi là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đây là sự kiện quan trọng, mang tính định hướng cho sự phát triển đất nước, đồng thời là tiền đề, động lực để đạt được những thành tựu vẻ vang sau này của cả dân tộc.
Tên gọi của Quốc hội được bầu trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 25/4/1976 là Quốc hội khóa VI với ý nghĩa kế tục sự nghiệp của 5 khóa Quốc hội trước.
PHÊ CHUẨN KẾ HOẠCH NHÀ NƯỚC 5 NĂM LẦN THỨ HAI (1976-1980)
Trong hoàn cảnh đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, khó khăn bề bộn, tại các kỳ họp, Quốc hội khóa VI đã thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hằng năm và Kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ hai (1976-1980) theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng.
Trên cơ sở đó, Chính phủ triển khai thực hiện quyết liệt và đã đạt được những thành tựu quan trọng trong cải tạo, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
VỚI NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhân dân ta lại phải đối mặt với những thử thách mới: chiến đấu chống chiến tranh xâm lược của tập đoàn Pol Pot- Ieng Sary (Campuchia) ở biên giới Tây Nam, bảo vệ Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng (1975-1979) và giành chiến thắng trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc (từ ngày 17/2 đến ngày 18/3/1979).
Trong bối cảnh đó, Quốc hội kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đập tan mọi hành động của các thế lực thù địch, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI KHÓA VI
Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với muôn vàn khó khăn sau chiến tranh, Quốc hội đã không ngừng củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát.
Thông qua các kỳ họp, Quốc hội tiến hành giám sát việc triển khai Hiến pháp năm 1980, thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Hoạt động giám sát không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, thể hiện rõ vai trò của Quốc hội trong việc bảo đảm sự vận hành thống nhất, đồng bộ của bộ máy nhà nước trong một giai đoạn lịch sử đầy thử thách.
KIÊN TRÌ ĐƯỜNG LỐI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ
Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên trì đường lối độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế, hoạt động đối ngoại của Quốc hội khóa VI được triển khai rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, nhiều địa bàn và với các tổ chức quốc tế lớn nhằm giải quyết những vấn đề có ý nghĩa chiến lược và những vấn đề phức tạp của đất nước trong quan hệ quốc tế.
Quốc hội khóa VI đã thẩm tra và phê chuẩn nhiều hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các nước. Cũng trong nhiệm kỳ này, Quốc hội Việt Nam đã được kết nạp là thành viên của Liên minh Nghị viện Thế giới (4/1979)
Quốc hội khóa VI đã quyết định đường lối, chính sách chung, cơ cấu tổ chức bộ máy và bầu các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thông qua các Nghị quyết về tên nước, Quốc kỳ, Quốc ca, quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn-Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc hội khóa VI đã đóng góp tích cực vào việc xây dựng hệ thống chính quyền mới ở miền Nam, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất trong cả nước, thông qua Hiến pháp năm 1980, mở đầu cho bước phát triển mới trong tiến trình đi lên của đất nước.