LCĐT - Năm 1968, ông Trương Duyên, ở tổ 25, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, 44 tuổi, là Chính trị viên Ban Chỉ huy Quân sự huyện Bảo Thắng. Khi tỉnh có chủ trương thành lập Tiểu đoàn Hoàng Liên Sơn II để chi viện cho chiến trường miền Nam, ông được điều về làm Chính trị viên Đại đội 4. Sau một thời gian huấn luyện, tháng 10/1969, gần 500 chiến sĩ là con em các dân tộc của các huyện: Sa Pa, Bát Xát, Bắc Hà, Mường Khương, Bảo Thắng và thị xã Lào Cai bắt đầu hành quân vào chiến trường. Ông Duyên bộc bạch: “Khi ấy tôi đã cao tuổi, sức khỏe giảm sút, nhưng được lãnh đạo và tổ chức đảng tin tưởng giao phó, nên vẫn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, chiến đấu đến năm 1972 mới trở ra Bắc. Sau đó, tôi về làm Chính trị viên Tiểu đoàn Công binh của tỉnh, tiếp tục mở tuyến đường Bát Xát đi Mường Hum”.
![]() |
| Cựu chiến binh Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh tỉnh Lào Cai dâng hương tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ (Khu Đô thị mới Lào Cai - Cam Đường). |
Ngày đó, cùng với ông Duyên, hơn 640 chiến sỹ của Tiểu đoàn Hoàng Liên Sơn I, Tiểu đoàn Hoàng Liên Sơn II hăng hái lên đường chiến đấu vì miền Nam ruột thịt. Cựu chiến binh Phạm Thế Dũng, ở thôn Nhớn 1, xã Cam Đường, thành phố Lào Cai năm nay đã ngoài 60 tuổi nhưng vẫn nhớ như in những ngày cùng đồng đội theo cánh quân phía Tây tiến vào giải phóng Sài Gòn. Chính trong trận đánh ở chi khu Tân Uyên ngày 29/4/1975, ông bị thương ở đầu và cánh tay, nhưng vẫn cùng đồng đội vượt cầu Vĩnh Bình, tiến đánh Bộ Tổng tham mưu Ngụy ở trung tâm Sài Gòn, góp sức làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc, thống nhất non sông.
Theo các tài liệu lịch sử, trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tỉnh Lào Cai đã huy động hơn 22.700 đoàn viên, thanh niên lên đường nhập ngũ, trong đó hơn 15.400 cán bộ, chiến sỹ trực tiếp vượt Trường Sơn vào Nam đánh Mỹ. Để làm tròn nhiệm vụ xây dựng hậu phương vững chắc, chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, cùng với cả nước, quân dân tỉnh Lào Cai hăng hái trong các phong trào thi đua “Ba sẵn sàng” trong thanh niên, “Ba đảm đang” trong phụ nữ, “Tay cày, tay súng” trong lực lượng dân quân, “Tay búa, tay súng” trong các nhà máy, xí nghiệp hoặc phong trào “Hai giỏi” trong hội phụ lão, “Nghìn việc tốt” trong giáo viên, học sinh… Từ thành thị đến nông thôn, đâu đâu cũng sôi nổi thực hiện khẩu hiệu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”... Chỉ tính từ năm 1965 đến năm 1968, quân và dân Lào Cai đã động viên hơn 3.400 thanh niên lên đường nhập ngũ, tham gia các đơn vị chủ lực vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu. Điển hình là năm 1967 và năm 1968, việc tuyển quân đều vượt chỉ tiêu, toàn tỉnh đã động viên 1,8% dân số là con em của 15 dân tộc trên địa bàn tỉnh đi chiến đấu. Nhiều thanh niên chưa đủ tuổi nhập ngũ cũng viết đơn tình nguyện bằng máu để được vào chiến trường, cầm súng đánh giặc cứu nước.
Bên cạnh nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam, tỉnh Lào Cai đã tích cực củng cố hậu phương vững mạnh toàn diện, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Trên tinh thần đó, lực lượng vũ trang của tỉnh không ngừng được củng cố, nâng cao chất lượng. Trước thủ đoạn đánh phá mới của địch, đến cuối tháng 12/1967, quân và dân Lào Cai đã sửa chữa và làm mới hơn 24.800 hầm hào, đào hàng vạn hố cá nhân, hào giao thông, thành lập hàng trăm tổ quan sát báo động phòng không. Từ năm 1965 đến năm 1967, quân dân Lào Cai đã chiến đấu độc lập 162 trận, phối hợp với bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang tỉnh Yên Bái đánh 189 trận, bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Đặc biệt, năm 1972, máy bay Mỹ đã 52 lần xâm phạm không phận tỉnh để trinh sát và rải truyền đơn, hàng tâm lý. Trong những ngày tháng này, quân dân Lào Cai nêu cao tinh thần chiến đấu, góp sức cùng cả nước giành thắng lợi trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tại Hà Nội vào tháng 12/1972, giữ vững con đường vận chuyển hàng hóa và phương tiện, vũ khí cung cấp cho chiến trường miền Nam. Những năm đó, xã Bảo Hà (Bảo Yên) là một trong những mục tiêu đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ, bởi đây là ga cuối cùng nhận hàng viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa ra chiến trường. Chỉ với vài khẩu đội phòng không 12,7 mm, quân và dân Bảo Hà cùng với lực lượng vũ trang tỉnh đã anh dũng chiến đấu bảo vệ cầu Bùn, cầu Khoai và khu vực ga, đồng thời thành lập hợp tác xã vận tải xe trâu chuyển hàng hóa từ ga ra bến phà, rồi theo đường sông về xuôi, chi viện cho các chiến trường.
Nhớ lại những năm tháng chiến đấu bảo vệ cầu Bùn trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ năm 1972, ông Lương Văn Ngân, 82 tuổi (bản Bùn 1, xã Bảo Hà, Bảo Yên) kể: “Một ngày cuối năm 1972, tôi cùng đồng đội trực chiến đã phát hiện 4 máy bay từ mạn Bảo Hà về xuôi, lúc sau lại có 2 chiếc bay ngược lên, trong đó 1 chiếc sà xuống rất thấp, sát cầu Bùn. Ngay lập tức, những khẩu súng liên tục nhả đạn, rồi từ các hướng khác, lưới lửa phòng không của nhân dân tầng tầng, lớp lớp giăng đỏ bầu trời, buộc chúng phải từ bỏ ý định đánh phá”.
![]() |
| Nhân dân Lào Cai thi đua sản xuất góp phần chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam đánh Mỹ. Ảnh T.L |
Từ những hành động cụ thể chiến đấu bảo vệ hậu phương, Lào Cai đã huy động hàng nghìn dân công hỏa tuyến, hơn 500 thanh niên xung phong, khoảng 18.000 dân quân, tự vệ tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Tỉnh đã huy động nhân lực, vật lực vận chuyển hơn một vạn tấn hàng hóa do quốc tế chi viện qua cửa khẩu Lào Cai ra tiền tuyến. Ngoài ra, huy động hơn 10.000 công ngựa thồ và hàng nghìn công xe kéo các loại, vận chuyển hơn 30.000 tấn hàng hóa phục vụ chiến đấu. Với tinh thần và trách nhiệm, tất cả vì miền Nam ruột thịt, Lào Cai đã góp phần cùng cả nước làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc, thống nhất non sông.
Một thời “vì miền Nam ruột thịt”, trong số những người con của Lào Cai vào Nam chiến đấu năm xưa, có người đã anh dũng hy sinh trên các chiến trường, có người được trở về quê hương với niềm tự hào và tâm thế của người chiến thắng. Bây giờ, mỗi người một hoàn cảnh, một vị trí công tác khác nhau, nhưng họ vẫn luôn phát huy truyền thống yêu nước, chung sức dựng xây quê hương Lào Cai, đồng thời luôn đoàn kết, tiên phong, gương mẫu trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các phong trào thi đua, góp phần sớm đưa Lào Cai trở thành tỉnh phát triển của khu vực Tây Bắc.
* Bài viết có sử dụng tư liệu trong cuốn: “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Lào Cai”.

