Khắc phục tình trạng khan hiếm nước sinh hoạt khu vực nông thôn

Theo mục tiêu Chiến lược quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, có 65% người dân nông thôn sử dụng nước đạt quy chuẩn vào năm 2030 và 100% người dân nông thôn sử dụng nước đạt quy chuẩn vào năm 2045.

Tuy nhiên, nguồn nước nội sinh (sẵn có) hiện chỉ chiếm chưa đến 40%. Mặt khác, lượng mưa phân bố không đồng đều, nhiều khu vực lượng mưa hằng năm rất ít, khiến tình trạng thiếu nước, đặc biệt là nước sinh hoạt khu vực nông thôn ở nhiều nơi ngày càng gay gắt...

Từ đầu năm đến nay, nhiều nơi trong cả nước, lượng mưa ít hơn trung bình nhiều năm. Đặc biệt ở một số nơi, nhiều tháng chưa có mưa. Nắng nóng kéo dài khiến tình trạng thiếu nước sinh hoạt xảy ra ở nhiều vùng nông thôn.

Tại 4 huyện vùng Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) suốt mấy tháng qua hầu như không có mưa. Đến nay, các nguồn nước, hồ chứa nước sinh hoạt đều cạn kiệt khiến người dân gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.

t8-2-190.jpg
Các hồ treo chứa nước trên Cao nguyên đá Đồng Văn đều cạn kiệt do khô hạn kéo dài.

Anh Giàng Mí Sính, xã Thài Phìn Tủng cho biết: “Gần 2 tháng nay, khi hồ chứa nước ở trung tâm xã không còn, người dân trong thôn phải đi hơn chục cây số đến khe nước tự nhiên lấy nước. Đi từ sớm xếp hàng, mỗi người cũng chỉ hứng được một can nước rồi nhường cho hộ khác. Mỗi ngày, cả gia đình chỉ có 20 lít nước sinh hoạt”.

Tình trạng thiếu nước sinh hoạt trên các huyện vùng Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn diễn ra nhiều năm nay. Vùng đất này có đến ¾ diện tích tự nhiên là núi đá tai mèo, rừng ít nên khả năng tích nước trong tự nhiên kém; địa hình có độ cao lớn nên việc khai thác nguồn nước ngầm, từ sông, suối cũng rất khó khăn.

Do đó, nguồn nước sinh hoạt của hầu hết người dân, đặc biệt là ở hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc phụ thuộc vào nước trời thông qua các bể chứa nước, hồ treo. Tỉnh Hà Giang triển khai các chương trình, dự án cấp nước sinh hoạt cho nhân dân bằng hình thức đầu tư hỗ trợ người dân xây dựng bể chứa nước quy mô hộ gia đình; đồng thời xây các hồ treo có dung tích trữ nước từ 3 nghìn đến 10 nghìn mét khối tại các khu vực có điều kiện.

Theo thống kê, tại 4 huyện vùng cao nguyên đá Đồng Văn có 121 hồ treo phục vụ nước cho cộng đồng và hàng chục nghìn bể chứa nước của các hộ gia đình.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Giang Giáp Mai Thùy cho biết, năm 2011, tỉnh Hà Giang đã lập đề án xây dựng hồ treo chứa nước để giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho người dân vùng cao nguyên đá Đồng Văn.

Mục tiêu của đề án là xây dựng gần 400 hồ, cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của người dân. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ xây được 121 hồ, nên chưa đáp ứng được nhu cầu trong mùa khô, nhất là năm nay hạn hán kéo dài thì tình trạng thiếu nước sinh hoạt lại thêm nghiêm trọng.

Ngoài việc xây dựng hồ treo, tỉnh Hà Giang cũng tìm kiếm nhiều giải pháp cấp nước. Đã khoan thăm dò tại huyện Mèo Vạc, phát hiện nguồn nước ngầm ở thị trấn Mèo Vạc, xã Pả Vi có 5/7 lỗ khoan có nước với tổng lưu lượng thực bơm khoảng hơn 1.100m3/ngày đêm. Tuy nhiên, do thiếu kinh phí đầu tư, công tác quản lý chưa tốt nên đến nay các công trình không phát huy hiệu quả.

Tại huyện Đồng Văn, năm 2019 đã khánh thành công trình bơm nước không điện thuộc dự án KaWaTech (tại thôn Séo Hồ, xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn) do Viện Khoa học địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Viện Quản lý nước và lưu vực sông - Quản lý tài nguyên nước và kỹ thuật môi trường (Cộng hòa Liên bang Đức) thực hiện. Công trình cấp 1.600m3 nước/ngày đêm được bơm lên đỉnh núi Ma Ú, ở độ chênh cao 600m đã cấp nước sinh hoạt cho toàn bộ khu vực thị trấn Đồng Văn và các khu vực phụ cận.

Tuy nhiên, do điều kiện địa hình, điều kiện kỹ thuật nên các mô hình cấp nước như trên hiện nay chưa được nhân rộng. Ông Giáp Mai Thùy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Giang cho rằng, việc tận dụng các nguồn nước mặt vẫn là giải pháp hữu hiệu, lâu dài. Do đó, các địa phương triển khai các dự án hỗ trợ người dân xây bể chứa, bồn chứa nước hộ gia đình.

Từ năm 2021 đến năm 2025, tỉnh triển khai 14 hồ treo có dung tích từ 3 nghìn đến 5 nghìn mét khối. Hiện nay, ngành nông nghiệp tỉnh đang phối hợp với Viện Khoa học Thủy lợi khảo sát, đề xuất phương án xây dựng bể chứa công suất từ 300 nghìn khối trở lên. Qua khảo sát, có thể xây dựng 3 hồ chứa lớn tại các huyện vùng cao.

Ở các địa bàn bằng phẳng hơn thì giải pháp hàng đầu trong cấp nước sinh hoạt cho người dân nông thôn là xây dựng và mở rộng hệ thống cấp nước thông qua đồng hồ đến từng hộ dân.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận Lê Huyền cho biết, trước đây chưa có hệ thống nước sạch, hằng ngày đồng bào Raglai, Chăm ở các huyện Bác Ái, Ninh Sơn, Thuận Bắc, Ninh Phước, Thuận Nam phải sử dụng nước từ sông, suối, kênh, mương để sinh hoạt.

Xác định cấp nước sạch an toàn và vệ sinh nông thôn là nhiệm vụ quan trọng, Ninh Thuận đã huy động, lồng ghép các nguồn vốn Trung ương và địa phương; vốn tài trợ, vốn vay để nâng cấp, mở rộng các công trình cấp nước nông thôn công suất từ 3.000-8.000m3/ngày đêm. Các công trình này được xây kế cận các công trình thủy lợi hoặc sông, hồ lớn nhằm bảo đảm nguồn nước thô ổn định trong mùa khô hạn.

Theo thống kê của Trung tâm Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến hết năm 2022, nước ta có khoảng 92,5% người dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh, khoảng 54% sử dụng nước đạt quy chuẩn Việt Nam. Cả nước đã đầu tư xây dựng khoảng 18.000 công trình cấp nước nông thôn tập trung, cấp nước cho khoảng 33 triệu người (52% số dân nông thôn). Khoảng 30 triệu người dân sử dụng nước sinh hoạt từ công trình cấp nước hộ gia đình (48% dân số nông thôn) với loại hình đa dạng: Giếng khoan (55%); giếng đào (30%); lu, bể chứa nước mưa (8%); thu, trữ và xử lý nước mặt (7%).

Báo Nhân Dân Xem link nguồn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Tiếp nhận 273 đơn vị máu tại Ngày hội “Giọt hồng hạnh phúc”

Tiếp nhận 273 đơn vị máu tại Ngày hội “Giọt hồng hạnh phúc”

Ngày 6/11, Ban Chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện các xã Bảo Yên, Phúc Khánh, Xuân Hòa, Thượng Hà, Nghĩa Đô và Bảo Hà phối hợp với Ban Vận động hiến máu tình nguyện tỉnh Lào Cai tổ chức Ngày hội hiến máu tình nguyện với chủ đề “Giọt hồng Hạnh Phúc”, hưởng ứng đợt thi đua cao điểm “80 ngày hành động vì cộng đồng”.

Vun đắp giá trị gia đình Việt trong nhịp sống mới

Vun đắp giá trị gia đình Việt trong nhịp sống mới

Tại tỉnh Lào Cai, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc luôn được các địa phương duy trì bằng những phong trào, mô hình thiết thực. Từ mỗi mái ấm, nếp sống văn hóa được vun đắp, những giá trị tốt đẹp của gia đình Việt tiếp tục được gìn giữ, bồi đắp và lan tỏa trong nhịp sống mới.

Tháo gỡ khó khăn trong đào tạo nghề lao động nông thôn

Tháo gỡ khó khăn trong đào tạo nghề lao động nông thôn

Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề được kỳ vọng mở thêm cơ hội nâng cao tay nghề, tìm kiếm việc làm, cải thiện thu nhập cho lao động nông thôn, nhất là người nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Thế nhưng, tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh, dù đã rà soát nhu cầu, có người đăng ký học và được bố trí kinh phí, việc mở lớp, tổ chức đào tạo vẫn đang gặp khó.

Lào Cai và Đại học Thái Nguyên chuẩn bị chuỗi sự kiện hợp tác trọng điểm trong tháng 11/2026

Lào Cai và Đại học Thái Nguyên chuẩn bị chuỗi sự kiện hợp tác trọng điểm trong tháng 11/2026

Sáng 6/11, đồng chí Vũ Thị Hiền Hạnh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì buổi làm việc với Đoàn công tác Đại học Thái Nguyên do đồng chí Hoàng Văn Hùng - Giám đốc Đại học Thái Nguyên làm Trưởng đoàn, rà soát nội dung, thống nhất công tác chuẩn bị chuỗi sự kiện hợp tác trọng điểm trong tháng 11/2026, cụ thể hóa Thỏa thuận hợp tác toàn diện giai đoạn 2026 - 2030 giữa hai bên.

Trường Chính trị tỉnh Lào Cai đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Trường Chính trị tỉnh Lào Cai đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Trong bối cảnh tổ chức bộ máy và phương thức quản lý có nhiều thay đổi, Trường Chính trị tỉnh Lào Cai chú trọng giúp người học nâng cao tư duy, năng lực xử lý công việc và khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ tại cơ sở. Việc trở thành trường chính trị đầu tiên trong cả nước đạt chuẩn mức 2 mở ra điều kiện phát triển mới, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và đóng góp cho sự phát triển của địa phương.

Xóa bỏ định kiến giới từ mỗi gia đình

Xóa bỏ định kiến giới từ mỗi gia đình

Bình đẳng giới không chỉ là bảo đảm quyền và cơ hội phát triển bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới mà còn là thay đổi những định kiến trong nếp nghĩ, cách sống của mỗi gia đình và cộng đồng. Khi phụ nữ được tôn trọng, được chia sẻ trách nhiệm gia đình, trẻ em gái có cơ hội học tập và lựa chọn tương lai như trẻ em trai, những rào cản giới sẽ từng bước được tháo gỡ.

fb yt zl tw