Phát triển kinh tế xanh đang trở thành hướng đi cần thiết đối với nông nghiệp Lào Cai, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa bảo vệ môi trường sinh thái. Từ chăn nuôi lợn rừng lai, sản xuất chè theo tiêu chuẩn an toàn đến đa dạng hóa cây trồng ở vùng cao, những đảng viên tiên phong đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất, tạo sinh kế bền vững cho gia đình và lan tỏa cách làm hiệu quả trong cộng đồng.
Tại thôn Ba Khe, xã Cát Thịnh, mô hình chăn nuôi lợn rừng lai của đảng viên Hoàng Tiến Lâm cho thấy cách khai thác hiệu quả nguồn lực sẵn có để phát triển kinh tế gia đình. Bắt đầu nuôi lợn rừng lai Thái Lan từ năm 2021, anh Lâm chủ động tìm hiểu kỹ thuật chăm sóc, phòng, chống dịch bệnh, từng bước tích lũy kinh nghiệm để duy trì đàn vật nuôi ổn định.
Hiện, gia đình anh Lâm đang duy trì nuôi 5 con lợn nái và 20 - 30 con lợn thương phẩm. Thay vì sử dụng thức ăn công nghiệp, anh tận dụng khoai, sắn, cỏ voi, bèo tây, lá chuối và các loại cây cỏ sẵn có quanh nhà làm thức ăn cho đàn lợn. Cùng với đó, việc vệ sinh chuồng trại, bảo đảm điều kiện chăn nuôi được chú trọng nhằm hạn chế nguy cơ dịch bệnh, giảm chi phí đầu vào.
Không chỉ phát triển chăn nuôi, gia đình anh Lâm còn nuôi ba ba lấy giống và trồng hơn 1 ha quế. Việc kết hợp nhiều mô hình giúp tận dụng đất đai, lao động, đa dạng nguồn thu và giảm phụ thuộc vào một loại sản phẩm. Nhờ đó, tổng thu nhập của gia đình đạt khoảng 250 triệu đồng/năm.
Nếu anh Lâm chú trọng giảm chi phí chăn nuôi bằng cách tận dụng nguồn lực tại chỗ thì tại xã Văn Chấn, đảng viên Nguyễn Văn Đức, Chi bộ thôn Hoa Ban lại lựa chọn hướng nâng cao chất lượng nông sản thông qua sản xuất chè an toàn.
Với hơn 1 ha chè lai NDP2, anh Đức áp dụng quy trình VietGAP, sử dụng nguồn nước tưới bảo đảm vệ sinh, chú trọng phân bón hữu cơ và tuân thủ quy định về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Các khâu chăm sóc, thu hái, sơ chế, bảo quản được thực hiện theo quy trình nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm. Mỗi năm, gia đình thu hoạch khoảng 8 tấn chè tươi/lứa, doanh thu đạt hơn 100 triệu đồng.
Anh Đức cho biết: Thông qua tuyên truyền của chi bộ về phát triển nông nghiệp hữu cơ gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, gia đình đã nâng cao nhận thức, chủ động áp dụng quy trình kỹ thuật vào chăm sóc chè.
Việc tuân thủ quy trình sản xuất không chỉ góp phần nâng cao chất lượng chè mà còn hướng người trồng chè đến sử dụng hợp lý vật tư nông nghiệp, hạn chế những tác động bất lợi đến môi trường. Đây cũng là cơ sở để nâng cao giá trị sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Hiện, xã Văn Chấn có hơn 950 ha chè, trong đó có 500 ha chè Shan tuyết; hơn 250 ha được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ. Những con số này phản ánh nỗ lực chuyển đổi phương thức canh tác tại địa phương. Trong quá trình đó, các đảng viên trực tiếp sản xuất như anh Đức có vai trò quan trọng khi đưa chủ trương vào thực tiễn bằng chính mô hình của gia đình. Hiệu quả kinh tế cùng chất lượng sản phẩm là minh chứng cụ thể, tạo thêm sức thuyết phục trong vận động người dân thay đổi tập quán sản xuất.
Ở xã vùng cao Púng Luông, đảng viên Giàng A Sàng, thôn Púng Luông, lựa chọn phát triển kinh tế theo hướng đa dạng hóa cây trồng, phù hợp với điều kiện tự nhiên và chú trọng bảo vệ môi trường đất.
Xác định nông nghiệp là nguồn thu nhập chính, ông Sàng chủ động tìm hiểu kiến thức, học hỏi kinh nghiệm để lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng địa phương. Gia đình ông hiện trồng hơn 1 ha sâm Ngọc Linh giống Lai Châu và tam thất giống Bắc Hà, 6 ha sơn tra cùng 300 gốc lê Đài Loan.
Các loại cây trồng có đặc điểm và thời gian thu hoạch khác nhau, góp phần đa dạng nguồn thu, giảm sự phụ thuộc vào một loại nông sản. Tổng thu nhập của gia đình đạt trên 100 triệu đồng/năm.
Trong quá trình canh tác, ông Sàng kiên trì thực hiện phương thức sản xuất theo hướng hữu cơ, thuận tự nhiên, không sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Cách làm này thể hiện mong muốn hạn chế tác động đến đất đai, giữ gìn môi trường sinh thái và duy trì khả năng sản xuất lâu dài trên diện tích đất của gia đình.
Tôi xác định muốn phát triển kinh tế lâu dài thì phải lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, đồng thời giữ gìn đất đai và môi trường sản xuất. Vì vậy, gia đình tôi canh tác theo hướng hữu cơ, thuận tự nhiên, không sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Tôi mong muốn các loại cây trồng phát triển ổn định, tạo nguồn thu nhập bền vững cho gia đình.
Mô hình của ông Sàng cho thấy hướng phát triển kinh tế xanh ở vùng cao có thể bắt đầu từ việc lựa chọn cây trồng phù hợp, đa dạng hóa sản phẩm và thay đổi cách thức chăm sóc theo hướng thân thiện với môi trường.
Từ Ba Khe đến Văn Chấn, Púng Luông, mỗi đảng viên có cách làm riêng, phù hợp với điều kiện sản xuất của gia đình và địa phương. Người tận dụng nguồn thức ăn sẵn có để giảm chi phí chăn nuôi; người tuân thủ quy trình sản xuất chè an toàn; người đa dạng hóa cây trồng, kiên trì canh tác theo hướng hữu cơ. Dù lựa chọn khác nhau, điểm chung ở họ là tinh thần chủ động đổi mới, coi hiệu quả kinh tế phải gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường.
Thực tế cho thấy, phát triển kinh tế xanh không nhất thiết bắt đầu từ những mô hình quy mô lớn hay công nghệ phức tạp. Đó có thể là việc sử dụng hợp lý nguồn lực sẵn có, tuân thủ quy trình sản xuất an toàn, hạn chế hóa chất trong canh tác và lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên. Khi những giải pháp ấy mang lại hiệu quả thiết thực, người dân sẽ có thêm cơ sở để thay đổi nhận thức và cách làm.
Để các mô hình phát huy hiệu quả lâu dài, bên cạnh sự chủ động của từng hộ gia đình, các địa phương và ngành chức năng cần tăng cường hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng nông sản và kết nối tiêu thụ sản phẩm. Đây là những điều kiện quan trọng giúp người dân yên tâm chuyển đổi phương thức sản xuất, từng bước nâng cao giá trị nông sản và cải thiện thu nhập.
Bằng những việc làm cụ thể trong lao động, sản xuất, các đảng viên đang góp phần đưa chủ trương phát triển kinh tế xanh vào cuộc sống. Khi tinh thần tiên phong, gương mẫu được thể hiện bằng hiệu quả thực tế, mỗi mô hình không chỉ tạo sinh kế cho một gia đình mà còn có thể trở thành kinh nghiệm để cộng đồng học hỏi, làm theo, hướng tới phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững và hài hòa với thiên nhiên.