Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 2018/QĐ-TTg ngày 21/10/2026 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Quyết định hướng tới mục tiêu hiện đại hóa ngành lâm nghiệp, phát huy tối đa tiềm năng đa giá trị của rừng, nâng cao đời sống người dân và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế "2 con số".

Mục tiêu tổng quát của điều chỉnh Quy hoạch nhằm cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng; bảo đảm phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quy hoạch sử dụng đất quốc gia và các quy hoạch liên quan. Đồng thời, quy hoạch xác định rõ mục tiêu, định hướng phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Xây dựng ngành lâm nghiệp đa giá trị, phát triển bền vững.
Xây dựng ngành lâm nghiệp đa giá trị, phát triển bền vững.

Việc điều chỉnh nhằm xây dựng một ngành lâm nghiệp hiện đại, hiệu quả, đa giá trị và phát triển bền vững. Qua đó, phát huy tiềm năng, vai trò của rừng, nâng cao chất lượng cũng như khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon của rừng, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng "2 con số", bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học. Ngành lâm nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái, xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân nông thôn miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số, giữ vững quốc phòng, an ninh và thực hiện các cam kết quốc tế.

Phấn đấu giá trị xuất khẩu lâm sản đạt trên 20 tỷ USD vào năm 2030

Về các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, điều chỉnh Quy hoạch đặt mục tiêu tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 5,0% - 5,5%/năm. Đến năm 2030, giá trị xuất khẩu lâm sản phấn đấu đạt trên 20 tỷ USD, trong khi giá trị tiêu thụ lâm sản tại thị trường trong nước đạt từ 6 - 7 tỷ USD.

Đến năm 2030, ngành tập trung nâng cao thu nhập và mức sống cho người lao động sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ lao động trong sản xuất lâm nghiệp được đào tạo nghề sẽ tăng từ 20% lên 30%, đồng thời bảo đảm bình đẳng giới. Về môi trường, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc được duy trì ổn định ở mức 42%, đóng góp hiệu quả vào các cam kết quốc tế của Việt Nam.

Hướng tới tầm nhìn đến năm 2050, lâm nghiệp sẽ trở thành ngành kinh tế, kỹ thuật hiện đại trên cơ sở phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tài nguyên rừng nhiệt đới. Ngành sẽ làm chủ các công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường; tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, chủ động tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu.

Ngành lâm nghiệp sẽ góp phần xây dựng đất nước xanh, an toàn, thịnh vượng, đặc biệt là phát triển mô hình nông thôn mới giàu, đẹp và văn minh ở vùng miền núi thông qua phát triển kinh tế xanh gắn với tài nguyên rừng, giữ gìn bản sắc văn hóa và không gian sinh tồn của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Định hướng quy hoạch đất lâm nghiệp và hoàn thành giao rừng đến năm 2030

Theo định hướng, diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2030 được quy hoạch là 15.550,53 nghìn ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 14.074,89 nghìn ha.

Trong giai đoạn 2026 - 2030, toàn quốc phấn đấu trồng mới 1.250 - 1.500 nghìn ha rừng và phát triển cây trồng phân tán từ 300 - 330 triệu cây. Đặc biệt, đến năm 2030, các địa phương phải hoàn thành việc giao rừng gắn với giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư đối với diện tích rừng, đất lâm nghiệp đang tạm giao UBND cấp xã trực tiếp quản lý.

Ứng dụng công nghệ cao trong quản lý, bảo vệ và khai thác rừng

Quy hoạch nhấn mạnh việc ứng dụng công nghệ cao trong quản lý, theo dõi, giám sát và bảo vệ rừng, nhất là đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Việc quản lý các khu rừng đặc dụng phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc ưu tiên bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo đảm ổn định diện tích, ranh giới, chức năng bảo tồn và không làm suy giảm giá trị của rừng.

Bên cạnh đó, các biện pháp bảo vệ, phát triển và khai thác hợp lý các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị, các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ sẽ được tăng cường; tiến tới hình thành các vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ, tạo ra sản phẩm đặc trưng cho từng vùng.

Về khai thác rừng, đến năm 2030, sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tập trung phấn đấu đạt trên 30 triệu m³/năm; sản lượng gỗ khai thác từ cây trồng phân tán, cây vườn nhà, cây cao su đạt 10 triệu m³/năm. Ngành sẽ thiết lập, vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc gỗ nguyên liệu hợp pháp, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, thiết bị hiện đại trong khai thác và vận chuyển gỗ, lâm sản.

Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong chế biến và thương mại lâm sản

Trong lĩnh vực chế biến và thương mại gỗ, lâm sản, Nhà nước ưu tiên ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị hiện đại nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, tiết kiệm nguyên liệu và tạo ra các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao.

Song song đó, ngành sẽ phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chuỗi cung ứng gỗ để đáp ứng tiêu chuẩn thị trường quốc tế; tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu gỗ Việt Nam, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, phát triển thị trường nội địa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

Phát triển du lịch sinh thái và dịch vụ môi trường rừng

Định hướng phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí gắn với bảo vệ và phát triển rừng bền vững sẽ được triển khai thông qua việc rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách. Ngành sẽ tạo điều kiện phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống địa phương và huy động nguồn lực xã hội cho công tác này.

Về dịch vụ môi trường rừng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tiếp tục được thực hiện hiệu quả, bao gồm dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Việc phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng sẽ tạo nguồn tài chính ổn định, bền vững cho công tác quản lý, bảo vệ và nâng cao chất lượng rừng.

Mục tiêu thu dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2026 - 2030 đạt bình quân 4.000 tỷ đồng/năm. Trong thời gian tới, các cơ quan chức năng sẽ tiếp tục nghiên cứu mở rộng các loại hình và đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Công ty TNHH Một thành viên Traphaco Sa Pa ký kết hợp tác phân phối độc quyền sản phẩm Cacao Atiso+

Công ty TNHH Một thành viên Traphaco Sa Pa ký kết hợp tác phân phối độc quyền sản phẩm Cacao Atiso+

Ngày 19/10, Công ty TNHH Một thành viên Traphaco Sa Pa và Công ty True Health đã ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối độc quyền sản phẩm Cacao Atiso+, đánh dấu bước hợp tác giữa hai doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm chăm sóc sức khỏe.

Gieo niềm tin – nối dài đầu ra nông sản

Gieo niềm tin – nối dài đầu ra nông sản

Toàn tỉnh Lào Cai hiện có 862 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm gần 55% tổng số hợp tác xã, cùng 2.801 tổ hợp tác nông nghiệp với hơn 12.000 thành viên. Thông qua liên kết sản xuất, thu mua và bao tiêu nông sản, các hợp tác xã từng bước khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, tạo đầu ra ổn định cho nông sản địa phương, giúp người dân yên tâm sản xuất, góp phần nâng cao giá trị nông sản và phát triển kinh tế nông thôn bền vững.

Võ Lao phát triển mô hình nuôi gà đen thả đồi

Võ Lao phát triển mô hình nuôi gà đen thả đồi

Tận dụng lợi thế đồi vườn, người dân xã Võ Lao phát triển mô hình nuôi gà đen thả đồi, mang lại nguồn thu nhập khá cho các hộ chăn nuôi. Với chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc, mô hình mở ra hướng phát triển kinh tế phù hợp, góp phần đa dạng hóa vật nuôi và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.

Khi lòng dân đồng thuận

Khi lòng dân đồng thuận

Thời gian qua, nhiều hộ dân xã Văn Chấn tự nguyện hiến đất, tháo dỡ tường rào, công trình, chặt bỏ cây cối để bàn giao mặt bằng mở rộng các tuyến đường giao thông. Sự đồng thuận với chủ trương chung của người dân góp phần đẩy nhanh tiến độ thi công, mở ra diện mạo mới cho những tuyến đường quê.

Bảo Thắng chủ động nguồn cây giống phục vụ trồng rừng

Bảo Thắng chủ động nguồn cây giống phục vụ trồng rừng

Khu vực Bảo Thắng đang chủ động sản xuất cây giống lâm nghiệp, đồng thời tăng cường kiểm tra, hướng dẫn các cơ sở gieo ươm bảo đảm chất lượng cây giống. Cùng với đó, công tác hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng được chú trọng, góp phần nâng cao hiệu quả trồng rừng trên địa bàn.

Lào Cai tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch tả lợn châu Phi

Lào Cai tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch tả lợn châu Phi

Từ đầu năm đến ngày 12/10/2026, dịch tả lợn châu Phi đã xuất hiện tại 36 xã trên địa bàn tỉnh Lào Cai, khiến 2.844 con lợn phải tiêu hủy. Mặc dù công tác phòng, chống dịch được các ngành, địa phương tích cực triển khai và nhiều xã đã qua 21 ngày không phát sinh thêm lợn mắc bệnh, nguy cơ dịch lây lan vẫn hiện hữu, đòi hỏi sự chủ động từ chính quyền, cơ quan chuyên môn và người chăn nuôi.

Người gieo mầm sinh kế xanh nơi vùng cao

Người gieo mầm sinh kế xanh nơi vùng cao

Rời công việc ổn định để trở về quê hương khởi nghiệp, chị Nông Thị Thắm - Giám đốc Hợp tác xã Y Dược học cổ truyền Yên Thế, xã Lục Yên, đã chọn cây dược liệu bản địa làm hướng phát triển kinh tế. Bằng kiến thức chuyên môn và tư duy đổi mới, chú trọng chế biến và liên kết sản xuất, chị không chỉ nâng cao giá trị cây thuốc mà còn tạo sinh kế cho phụ nữ dân tộc thiểu số, mở ra hướng phát triển nông nghiệp xanh ngay trên quê hương mình.

Điều chỉnh thời vụ, chuyển đổi cây trồng để bù đắp thiệt hại do mưa lũ

Điều chỉnh thời vụ, chuyển đổi cây trồng để bù đắp thiệt hại do mưa lũ

Từ đầu năm 2026 đến nay, mưa lũ ảnh hưởng khoảng 2.355 ha diện tích sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh Lào Cai; hàng nghìn vật nuôi và nhiều diện tích nuôi thủy sản bị cuốn trôi, tổng giá trị thiệt hại trên 295 tỷ đồng. Trước khó khăn đó, các cấp chính quyền và nông dân vùng lũ đang nỗ lực điều chỉnh lịch thời vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng để khôi phục sinh kế, bù đắp sản lượng trong những tháng cuối năm.

Sức sống từ những phong trào nông dân

Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam (14/10/1930 - 14/10/2026) Sức sống từ những phong trào nông dân

Từ các hoạt động hỗ trợ vốn, chuyển giao khoa học, kỹ thuật đến thúc đẩy liên kết sản xuất, các cấp Hội Nông dân tỉnh Lào Cai đang tạo điều kiện để hội viên phát huy tiềm năng, phát triển kinh tế. Qua đó, nhiều mô hình sản xuất hiệu quả được hình thành, góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Tiếp sức cho phụ nữ làm chủ hợp tác xã

Tiếp sức cho phụ nữ làm chủ hợp tác xã

Không chỉ tạo thu nhập cho gia đình, ngày càng nhiều chị em phụ nữ chủ động ứng dụng công nghệ, mở rộng thị trường và làm chủ các mô hình hợp tác xã. Những bước tiến ấy có sự đồng hành, hỗ trợ của các hội, đoàn thể, chính quyền địa phương và cộng đồng.

Thôn Sân Bay chuyển mình

Thôn Sân Bay chuyển mình

Sau khi sáp nhập với thôn Gốc Quân, thôn Sân Bay, xã Đông Cuông, có không gian phát triển rộng hơn, từ vùng lúa, rau màu đến đồi rừng. Phát huy lợi thế từng khu vực, người dân đang đa dạng hóa sản xuất, mở hướng phát triển kinh tế cho thôn mới.

“Hoa nở” trên đồi quế

“Hoa nở” trên đồi quế

Tận dụng lợi thế đất đồi, chị Nguyễn Thị Nga, Chi hội phó Chi hội Phụ nữ thôn Đoàn Kết, xã Bảo Ái đã phát triển cây quế gắn với thu mua, chế biến nguyên liệu. Với 20 ha quế của gia đình, cùng hướng đi chủ động trong sản xuất, kinh doanh, mô hình của chị mang lại thu nhập khoảng 500 triệu đồng mỗi năm, đồng thời tạo việc làm cho nhiều lao động tại địa phương.

Đảng viên đi trước, Nhân dân đồng lòng

Đảng viên đi trước, Nhân dân đồng lòng

Từ sự tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, xã Bảo Thắng đã khơi dậy tinh thần đoàn kết, đồng thuận trong Nhân dân, biến những việc khó thành phong trào hành động rộng khắp. Phát huy sức dân trong xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn, nhiều tuyến đường được mở rộng, nâng cấp, góp phần tạo diện mạo mới cho quê hương.

fb yt zl tw