Việt Nam quan tâm bảo đảm quyền của người khuyết tật

Những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong việc thực thi Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật, từ hoàn thiện pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng đến cải thiện đời sống cho người khuyết tật. Những thành tựu này phản ánh cam kết chính trị mạnh mẽ của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong nỗ lực vượt qua những khó khăn của một quốc gia đang phát triển để bảo đảm tốt nhất quyền của người khuyết tật.

img-0219.jpg
Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Tây Ninh tổ chức lớp tập huấn phục hồi chức năng cho người bệnh, người khuyết tật và người chăm sóc bệnh nhân.

Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD) được thông qua năm 2006 và có hiệu lực từ năm 2008, là công cụ pháp lý quốc tế quan trọng nhằm thúc đẩy, bảo vệ và bảo đảm quyền của người khuyết tật trên toàn cầu. Từ năm 2007, Việt Nam đã ký tham gia CRPD. Tại kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2014), Quốc hội khóa XIII đã chính thức phê chuẩn CRPD. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn thể hiện hiện tinh thần, ý thức trách nhiệm đối với việc bảo đảm, thực thi quyền của người khuyết tật (hiện cả nước có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,06% số dân).

Ngay từ năm 2010, Việt Nam đã ban hành Luật Người khuyết tật, đánh dấu sự chuyển đổi từ cách tiếp cận từ thiện sang cách tiếp cận dựa trên quyền con người, coi người khuyết tật là chủ thể có quyền bình đẳng, thay vì chỉ là đối tượng cần cứu trợ. Luật quy định quyền của người khuyết tật trong các lĩnh vực cơ bản như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, việc làm, tiếp cận cơ sở hạ tầng và bảo trợ xã hội, đồng thời nghiêm cấm các hành vi kỳ thị và phân biệt đối xử.

Tại Hiến pháp 2013 cũng khẳng định nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ quyền của người khuyết tật. Hàng loạt văn bản pháp luật như Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Xây dựng… đã được ban hành với các chính sách đặc thù hỗ trợ người khuyết tật.

Sau khi phê chuẩn CRPD, Việt Nam đã nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với Công ước, khẳng định trách nhiệm với các cam kết quốc tế. Điển hình, Quyết định số 1100/QĐ-TTg năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện CRPD, tập trung vào 10 nội dung chính như thay đổi nhận thức cộng đồng và cải thiện tiếp cận dịch vụ công.

Tương tự, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP và Nghị định số 136/2013/NĐ-CP đã hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Luật Người khuyết tật trong thực tiễn, bao gồm chính sách trợ cấp xã hội và xác định mức độ khuyết tật. Đồng thời, việc thành lập Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật năm 2015 là một bước tiến quan trọng trong việc điều phối và giám sát thực thi CRPD tại Việt Nam.

Đáng chú ý, việc nâng cao nhận thức cộng đồng, một yêu cầu quan trọng được đề cập trong Điều 8 CRPD đã được Việt Nam thực hiện hiệu quả thông qua các chiến dịch truyền thông đa dạng, góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ xã hội đối với quyền tôn trọng, bảo đảm quyền của người khuyết tật.

Các sự kiện như Ngày Người khuyết tật Việt Nam (18/4) và Ngày Quốc tế người khuyết tật (3/12) được tổ chức thường niên, với các hoạt động đa dạng như giao lưu văn hóa, thi tìm hiểu pháp luật, biểu dương những tấm gương điển hình… góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về người khuyết tật. Cùng với đó, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức của/vì người khuyết tật tham gia tích cực vào phản biện và giám sát chính sách, nhờ đó tiếng nói của người khuyết tật được lắng nghe.

Việt Nam thể hiện vai trò tích cực trong hợp tác quốc tế về quyền của người khuyết tật thông qua việc tham gia các diễn đàn khu vực và toàn cầu, đặc biệt là có nhiều sáng kiến trong việc xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động khu vực về nhân quyền, thúc đẩy và bảo vệ quyền người khuyết tật.

Tại ASEAN, Việt Nam góp phần xây dựng Tuyên bố Bali và Khung hành động thập kỷ ASEAN về người khuyết tật 2011-2020. Khung hành động hướng tới mục tiêu thúc đẩy sự hòa nhập của người khuyết tật trong khu vực thông qua việc tăng cường tiếp cận giáo dục, việc làm, dịch vụ y tế và bảo đảm quyền tham gia đầy đủ vào đời sống xã hội, từ đó xây dựng một cộng đồng ASEAN không rào cản và công bằng.

Từ những kết quả đạt được, Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận là điểm sáng trong công tác giảm nghèo và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Cùng với đó, hệ thống an sinh xã hội không ngừng mở rộng diện bao phủ và nâng cao chất lượng chính sách đối với người khuyết tật: hơn 1,6 triệu người khuyết tật nặng được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, 96% số người khuyết tật có thẻ bảo hiểm y tế, các bệnh viện đa khoa trung ương, tỉnh và huyện đều có khoa phục hồi chức năng; trẻ em khuyết tật được hỗ trợ học hòa nhập tại các cơ sở giáo dục,…

Mới đây, ngày 6/3/2025, đoàn công tác liên ngành do Thứ trưởng Nội vụ Nguyễn Văn Hồi làm trưởng đoàn đã tham dự phiên bảo vệ báo cáo CRPD tại Trụ sở Liên hợp quốc ở Geneva. Báo cáo tại phiên họp, Thứ trưởng Nguyễn Văn Hồi tiếp tục khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc quan tâm, chăm sóc, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, phù hợp với Công ước về quyền của người khuyết tật mà Việt Nam là thành viên.

Mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong việc bảo đảm quyền của người khuyết tật song vẫn còn phải đối mặt với không ít thách thức.

Thứ nhất, ở các khu vực nông thôn, nơi sinh sống của phần lớn người khuyết tật, việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục và việc làm vẫn còn hạn chế. Vì vậy, dù 96% số người khuyết tật có thẻ bảo hiểm y tế, nhưng tại nhiều vùng sâu, vùng xa, thiếu cơ sở vật chất và nhân lực khiến cho nhiều người khó thụ hưởng lợi ích thực tế từ chính sách này. Mặt khác, tỷ lệ người khuyết tật ở nông thôn được hỗ trợ học nghề chưa cao, cho thấy vẫn còn khoảng cách trong việc triển khai các chương trình phát triển kỹ năng cho nhóm đối tượng này.

Thứ hai, với nguồn lực kinh tế còn hạn chế của một quốc gia đang phát triển, Việt Nam gặp khó khăn trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng thân thiện với người khuyết tật. Tính đến năm 2024, chỉ 3,5% số xe buýt công cộng và 30% số bến xe có hạ tầng phù hợp, trong khi tỷ lệ công trình công cộng hỗ trợ tiếp cận vẫn còn thấp. Điều này khiến người khuyết tật, nhất là ở đô thị, gặp trở ngại trong việc tham gia đầy đủ vào đời sống xã hội.

Thứ ba, dù các chiến dịch nâng cao nhận thức đã đạt được nhiều kết quả, định kiến xã hội về người khuyết tật vẫn còn trong tư tưởng một bộ phận người dân. Vẫn có quan điểm cho rằng người khuyết tật là đối tượng cần cứu trợ hơn là những cá nhân có quyền bình đẳng, dẫn đến sự kỳ thị trong cộng đồng, gây tổn thương cho những người không may bị khiếm khuyết về cơ thể. Thí dụ, tại một số địa phương, trẻ em khuyết tật vẫn bị hạn chế tham gia học hòa nhập do thái độ e ngại từ phụ huynh hoặc giáo viên.

Lợi dụng những hạn chế này, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, vu cáo Việt Nam "thờ ơ", "bỏ mặc" người khuyết tật, hòng làm mất niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Những phần tử chống phá cố tình bỏ qua thực tế rằng chính những hạn chế về nguồn lực, vốn phổ biến ở các nước đang phát triển, đã được Việt Nam từng bước khắc phục, với hơn 1,6 triệu người khuyết tật nặng được nhận trợ cấp hằng tháng, 96% số người khuyết tật đã được cấp thẻ bảo hiểm y tế.

Trên thực tế, so với nhiều nước có cùng mức thu nhập, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc hỗ trợ người khuyết tật. Như tại Philippines, Luật Người khuyết tật dù đã được ban hành song quốc gia này vẫn đối mặt với thách thức lớn về triển khai thực tế do thiếu dữ liệu hệ thống và sự phân mảnh địa lý của hơn 7.000 hòn đảo. Trong khi đó, Việt Nam đã xây dựng được một khung pháp lý đồng bộ và mạng lưới giám sát trải rộng đến 38/63 tỉnh, thành phố tính đến năm 2024.

Những thành tựu của Việt Nam trong thực thi CRPD là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy nỗ lực của một quốc gia đang phát triển trong việc cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm quyền con người. Trong thời gian tới, để bảo đảm tốt hơn quyền của người khuyết tật, chúng ta cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm:

Trước hết cần tăng cường thực thi và giám sát chính sách đối với người khuyết tật; đẩy mạnh vai trò của Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật trong việc giám sát và hỗ trợ địa phương, đồng thời xây dựng cơ chế xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm quyền của người khuyết tật.

Quan tâm đầu tư nguồn lực và cơ sở hạ tầng ở vùng sâu, vùng xa, đồng thời đào tạo đội ngũ chuyên gia phục hồi chức năng và công tác xã hội đối với người khuyết tật.

Tiếp tục thúc đẩy sự tham gia của người khuyết tật vào các hoạt động xã hội, tạo điều kiện để người khuyết tật tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng chính sách và bầu cử, thông qua việc cải thiện thông tin và hỗ trợ vật lý. Nâng cao nhận thức xã hội, theo đó cần đẩy mạnh giáo dục cộng đồng bằng nhiều hình thức đa dạng, phù hợp với nhiều đối tượng.

Chú trọng khai thác hiệu quả của các nền tảng mạng xã hội để đẩy mạnh việc tuyên truyền giúp xóa bỏ định kiến đang tồn tại trong một bộ phận quần chúng đối với người khuyết tật; cùng với đó là động viên, khuyến khích sự hòa nhập của người khuyết tật trong mọi lĩnh vực.

Với chủ trương, chính sách đúng đắn, sự quyết tâm, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, Việt Nam sẽ tiến xa hơn trên hành trình xây dựng một xã hội hòa nhập, công bằng và nhân văn, ở đó người khuyết tật được trân trọng, tạo điều kiện phát triển toàn diện, không người khuyết tật nào bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Theo nhandan.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lào Cai quán triệt, triển khai Đề án số 05 của Tỉnh ủy

Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lào Cai quán triệt, triển khai Đề án số 05 của Tỉnh ủy

Ngày 13/4, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lào Cai tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai Đề án số 05-ĐA/TU (Đề án số 05) của Tỉnh ủy về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh giai đoạn 2025 - 2030.

Quy định mới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

Quy định mới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; thay thế Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.

Hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác cán bộ

Hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác cán bộ

Chiều 13/4/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị công bố các quyết định của Bộ Chính trị về chỉ định nhân sự tham gia Quân uỷ, Ban Thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư Quân uỷ Trung ương nhiệm kỳ 2025 - 2030; tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ Công an Trung ương nhiệm kỳ 2025 - 2030; Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương nhiệm kỳ 2025 - 2030; Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương nhiệm kỳ 2025 - 2030. ​​​​​​​

Hơn 50.300 cán bộ, đảng viên dự hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV

Lào Cai: Hơn 50.300 cán bộ, đảng viên dự hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV

Sáng 13/4, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV

Sáng 13/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Báo và Phát thanh - Truyền hình Lào Cai trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai Tráng A Dương tham gia thảo luận về Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi)

Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai Tráng A Dương tham gia thảo luận về Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi)

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 12/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường về Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) và Dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm.

Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện tầm quan trọng đặc biệt của quan hệ Việt-Trung

Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện tầm quan trọng đặc biệt của quan hệ Việt-Trung

Hai chuyến công du nước ngoài đầu tiên của đồng chí Tô Lâm sau khi nhậm chức Tổng Bí thư (tháng 8/2024) và Chủ tịch nước (tháng 4/2026), đều lựa chọn điểm đến là Trung Quốc, cho thấy sự coi trọng cao độ và tầm quan trọng đặc biệt của quan hệ hai Đảng, hai nước Việt Nam-Trung Quốc.

fb yt zl tw