Trong quá trình hoạt động cách mạng và sáng tạo lý luận, trên cơ sở kế thừa tư tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin đã đưa ra quan điểm về xây dựng nền văn hóa mới. Theo ông, đó là nền văn hóa của giai cấp vô sản, cũng chính là nền văn hóa xã hội chủ nghĩa; xã hội muốn phát triển thì cần thiết phải chú trọng đến phát triển văn hóa, bởi văn hóa được xem là nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền văn hóa mới này nhằm mục đích phục vụ đời sống của nhân dân.
Ở giai đoạn lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam đều vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng nền văn hóa mới để phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa, đã có sự kế thừa, phát triển sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về văn hóa.
Thứ nhất, Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện sự vận dụng sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội. Nếu như V.I.Lênin xác định văn hóa là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển xã hội và giữ vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, thì Nghị quyết số 80-NQ/TW đã nâng tầm nhận thức này khi khẳng định văn hóa không chỉ dừng lại ở vị trí nền tảng tinh thần, mà còn là “nguồn lực nội sinh, động lực to lớn và trụ cột, hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Cách tiếp cận này cho thấy sự tiếp tục đổi mới tư duy của Đảng khi nhìn nhận về vai trò, vị trí của văn hóa trong kỷ nguyên mới.
Văn hóa không chỉ là nguồn lực nội sinh, động lực của sự phát triển; phát triển văn hóa không chỉ được đặt ngang với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, mà văn hóa còn đóng vai trò điều tiết xã hội.
Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ, hài hòa các giá trị văn hóa trong mọi lĩnh vực của đời sống, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thật sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Đáng chú ý, Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện rõ định hướng kết hợp biện chứng giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển. Một mặt, Nghị quyết đề cao việc chủ động quảng bá văn hóa dân tộc ra thế giới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; mặt khác, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách đột phá nhằm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa.
Sự kết hợp này được cụ thể hóa thông qua việc triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, qua đó tạo nền tảng cho phát triển toàn diện con người, đạo đức xã hội và phẩm cách quốc gia trong kỷ nguyên mới. Đồng thời, Nghị quyết cũng chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số; tôn trọng sự tồn tại và phát triển các dòng văn hóa lành mạnh; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển dòng văn hóa đại chúng gắn với nguyên tắc “dân tộc hóa”, “khoa học hóa”.
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nghị quyết số 80-NQ/TW còn nhấn mạnh yêu cầu chủ động thích ứng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong phát triển văn hóa; xây dựng và khai thác hiệu quả hạ tầng dữ liệu quốc gia, nền tảng số dùng chung, bảo đảm kết nối đồng bộ với các cơ sở dữ liệu quốc gia; phát triển nội dung số, hạ tầng văn hóa số Việt Nam; xây dựng, phát triển hệ sinh thái văn hóa mang bản sắc Việt Nam, đa dạng, hiện đại, có sức mạnh dẫn dắt, thúc đẩy xã hội phát triển bền vững.
Thứ hai, Nghị quyết số 80- NQ/TW đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về tính đảng của văn hóa trong điều kiện mới của Việt Nam. Nghị quyết đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng thế trận văn hóa gắn với quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Đồng thời, Nghị quyết khẳng định phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hóa, doanh nhân đóng vai trò quan trọng, đồng thời đề cao tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Thứ ba, Nghị quyết số 80- NQ/TW đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về tính nhân dân của văn hóa trong điều kiện phát triển mới của đất nước. Nếu như V.I.Lênin khẳng định văn hóa phải thuộc về quần chúng nhân dân, do nhân dân sáng tạo và phục vụ lợi ích của nhân dân, thì Nghị quyết số 80-NQ/ TW đã cụ thể hóa và phát triển sâu sắc luận điểm này trên cả phương diện thể chế, chính sách và thực tiễn triển khai.
Trước hết, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm đầy đủ quyền thụ hưởng và sáng tạo văn hóa, tiếp cận bình đẳng văn hóa; phát triển dịch vụ văn hóa, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân.
Xây dựng và vận hành nền tảng văn hóa số toàn dân, cung cấp miễn phí hoặc với chi phí thấp các dịch vụ thư viện số, bảo tàng số, nghệ thuật biểu diễn trực tuyến, lớp học nghệ thuật trực tuyến nhằm thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền, tầng lớp nhân dân. Bảo đảm bình đẳng trong thụ hưởng các giá trị văn hóa đối với các nhóm yếu thế như người khuyết tật, người nghèo, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số; chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số.
Bên cạnh đó, việc lần đầu thống nhất chọn ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, với chủ trương là ngày nghỉ, người lao động được hưởng nguyên lương, không chỉ tạo điều kiện nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, mà còn khuyến khích hoạt động sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ, qua đó thúc đẩy lan tỏa các giá trị văn hóa trong toàn xã hội.
Hơn nữa, Nghị quyết còn xác định rõ người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm của đổi mới sáng tạo văn hóa, đồng thời thụ hưởng trực tiếp giá trị và thành quả của văn hóa, tạo điều kiện hình thành tầng lớp công chúng văn hóa hiện đại, gắn với môi trường số và đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, Nghị quyết số 80- NQ/TW cho thấy Đảng ta đã kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về yêu cầu nâng cao dân trí trong cách mạng văn hóa, coi đây là điều kiện nền tảng để xây dựng xã hội mới và phát triển con người toàn diện.
Nếu như V.I.Lênin nhấn mạnh việc nâng cao trình độ học vấn, tri thức và năng lực văn hóa của quần chúng như một nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng, thì Nghị quyết số 80-NQ/TW đã cụ thể hóa và hiện đại hóa quan điểm này thông qua chiến lược phát triển nguồn nhân lực toàn diện, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực văn hóa.
Theo đó, Nghị quyết đề ra yêu cầu chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động, nhất là cán bộ chủ chốt và những người làm công tác văn hóa, nghệ thuật ở địa phương; xây dựng và phát triển mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước về văn hóa.
Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh việc đổi mới giáo dục nghệ thuật trong các cơ sở giáo dục, không chỉ nhằm phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, mà còn định hướng thị hiếu thẩm mỹ và chuẩn bị nguồn nhân lực từ sớm; đồng thời xây dựng và phát triển các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo theo mô hình tiên tiến, hiện đại; phát triển các chương trình đào tạo đặc thù về văn hóa, nghệ thuật, công nghiệp sáng tạo và quản trị dữ liệu văn hóa; cho phép đào tạo tích hợp phổ thông, nghệ thuật, công nghệ để hình thành đội ngũ nhân lực văn hóa, nghệ thuật, công nghệ chất lượng cao…
Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chuyên sâu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong văn hóa và đội ngũ sáng tạo nội dung số. Đảng ta không chỉ kế thừa quan điểm của V.I.Lênin về nâng cao dân trí, mà còn phát triển theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục, khoa học, công nghệ và văn hóa, nhằm tạo lập nền tảng nhân lực cho phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh mới.
Quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng nền văn hóa mới vẫn giữ nguyên giá trị phương pháp luận, đặc biệt đối với Việt Nam, khi việc kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại gắn với giữ gìn bản sắc dân tộc đang trở thành yêu cầu tất yếu nhằm xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam.
Nhận thức sâu sắc quan điểm của V.I.Lênin và quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa mới, nhất là quan điểm của Đảng thể hiện trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, là cơ sở để mỗi người Việt Nam và nhất là mỗi cơ quan văn hóa Việt Nam có cách ứng xử đúng đắn đối với vấn đề xây dựng nền văn hóa mới trong bối cảnh công nghệ số và hội nhập quốc tế vừa có những thuận lợi, nhưng cũng có không ít thách thức hiện nay.