Theo Bộ luật Lao động năm 2019, chỉ có 4 hình thức xử lý kỷ luật lao động, gồm: khiển trách, kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng, cách chức và sa thải.
Pháp luật lao động cũng quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm khi xử lý kỷ luật lao động là xâm phạm sức khỏe, danh dự, tính mạng, uy tín, nhân phẩm của người lao động; phạt tiền, cắt lương thay cho việc xử lý kỷ luật lao động; xử lý kỷ luật đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã giao kết hoặc pháp luật về lao động không có quy định.
Khi xử lý kỷ luật, người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động. Việc xử lý kỷ luật lao động phải được ghi thành biên bản; đồng thời phải có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xử lý kỷ luật là thành viên.
Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện cho mình bào chữa. Trường hợp người lao động chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật.
Người sử dụng lao động không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm. Khi người lao động đồng thời có nhiều hành vi vi phạm, người sử dụng lao động chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất, tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.
Người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật khi người lao động nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động; đang bị tạm giữ, tạm giam; đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Lao động; đang mang thai hoặc nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Ngoài ra, người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
Nghị định số 283 của Chính phủ nêu rõ người sử dụng lao động có thể bị phạt 20-40 triệu đồng nếu xâm phạm sức khỏe, tính mạng của người lao động khi xử lý kỷ luật lao động (nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự); xâm phạm danh dự, uy tín hoặc nhân phẩm của người lao động khi xử lý kỷ luật lao động mà không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mức phạt này cũng áp dụng với hành vi dùng hình thức phạt tiền hoặc cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động; xử lý kỷ luật đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã giao kết hoặc pháp luật về lao động không quy định; áp dụng nhiều hình thức kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động.
Doanh nghiệp xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian nghỉ ốm đau; nghỉ điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động; đang bị tạm giữ; đang bị tạm giam; đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra, xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại Bộ luật Lao động, cũng bị phạt tiền ở mức trên.
Đáng chú ý, Điều 7 của Nghị định số 283 nêu rõ các mức phạt nói trên là dành cho cá nhân, còn mức phạt tiền cho tổ chức là gấp đôi các mức này. Do đó, tổ chức vi phạm các hành vi nêu trên có thể bị phạt tiền đến 80 triệu đồng.