Xung đột kéo dài giữa Mỹ và Iran, Israel và Iran không chỉ là cuộc đọ sức quân sự mà còn làm thay đổi cấu trúc nhà nước, hệ tư tưởng chính trị và vai trò khu vực của Iran. Nhận định trên được ông Vali Nasr đưa ra tại buổi tọa đàm công khai do Viện Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (RSIS), Đại học Công nghệ Nanyang tổ chức ngày 20/10.
Dẫn quan điểm của nhà xã hội học Mỹ Charles Tilly “nhà nước tạo ra chiến tranh, chiến tranh cũng định hình nhà nước”, ông Nasr cho rằng với Iran, cuộc chiến này là cú sốc “tái định hình quốc gia”, tác động đến hệ thống quân sự, chính trị và cả cấu trúc kinh tế, tâm lý xã hội.
Chính quyền Iran không sụp đổ như dự đoán
Trước đó, bên ngoài từng cho rằng chỉ cần Lãnh tụ tối cao Khamenei bị tiêu diệt, cộng với bất mãn trong nước kéo dài, chính quyền Iran có thể sụp đổ nhanh chóng. Thực tế không diễn ra như vậy.
Theo ông Nasr, bộ máy quyền lực của Iran ngay từ đầu không được thiết kế để đạt hiệu quả hành chính mà để duy trì sức chống chịu sau các cú sốc lớn. Quyền lực phân tán ở nhiều “nút” như giới tôn giáo, Lực lượng Vệ binh Cách mạng, tầng lớp chính trị và mạng lưới kinh doanh, không phụ thuộc hoàn toàn vào một nhà lãnh đạo.
Ông Nasr cho rằng, nếu kế hoạch tác chiến coi Iran là hệ thống quyền lực dọc yếu ớt, cứng nhắc thì có thể đánh giá sai khả năng chịu các đòn “triệt hạ đầu não” của nước này. Ông ví việc tấn công hệ thống như vậy “giống như đấm vào thạch”.
Tháng 6/2025, Israel tiêu diệt khoảng 30 chỉ huy cấp cao của Iran trong 12 ngày, nhưng Iran nhanh chóng phản công, cho thấy hệ thống chỉ huy có khả năng thay thế và phục hồi tốt.
Theo ông Nasr, cuộc chiến đến nay có ba kết quả nằm ngoài dự đoán của bên ngoài: chính quyền Iran không sụp đổ, không xảy ra cuộc nổi dậy quy mô lớn của người dân như kỳ vọng và Iran đã sớm chuẩn bị phương án tác chiến với Mỹ.
Mô hình “không chiến tranh, không hòa bình” đi đến hồi kết
Ông Khamenei từ lâu theo đuổi chính sách “không chiến tranh, không hòa bình” (no war, no peace) với Mỹ. Theo đó, Iran có thể duy trì đối đầu mà không khai chiến toàn diện, đạt thỏa thuận hạn chế khi cần nhưng không bình thường hóa quan hệ. Ông Nasr cho rằng chiến lược này có thể đã tính toán sai nghiêm trọng do đánh giá thấp khả năng Mỹ thay đổi chính sách với Iran.
Cách tiếp cận của Tổng thống Donald Trump khác hẳn. Theo ông Nasr, việc ông Trump rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran và ra lệnh tiêu diệt tướng Qassem Soleimani cho thấy gây sức ép không dừng ở chính sách ngăn chặn truyền thống mà nhằm buộc Iran nhượng bộ căn bản hơn. Với Tổng thống Trump, vòng lặp đối đầu, thăm dò và phản công giữa hai nước kể từ Cách mạng Hồi giáo năm 1979 không còn là tình trạng có thể kéo dài vô thời hạn.
Tấn công từ bên ngoài khơi dậy chủ nghĩa dân tộc
Theo ông Nasr, một sai lầm quan trọng khác của Mỹ và Israel là cho rằng các đòn tấn công quân sự sẽ kích hoạt cuộc nổi dậy chống chính quyền trong nước.
Iran từng xảy ra các cuộc biểu tình chống chính phủ quy mô lớn vào năm 2022 và đầu năm 2026. Vì vậy, Mỹ và Israel cho rằng nền tảng ủng hộ xã hội của chính quyền đã suy yếu nghiêm trọng, đồng thời dự đoán nếu ông Khamenei thiệt mạng, người dân sẽ lật đổ chính quyền. Cuộc nổi dậy như kỳ vọng đã không xảy ra.
Ngược lại, cách ông Khamenei thiệt mạng và tác động của chiến tranh trên lãnh thổ Iran đã khơi dậy các biểu tượng tôn giáo và tinh thần dân tộc. Ông Nasr cho biết ông Khamenei không bị giết khi trốn trong hầm ngầm mà bị tấn công ngay tại văn phòng, một số thành viên gia đình ông cũng thiệt mạng. Với nhóm ủng hộ chính quyền, cái chết này gợi nhớ truyền thống “tử đạo” của người Hồi giáo Shia. Một bộ phận người dân vốn ở “vùng xám” chính trị cũng bắt đầu nghiêng về chủ nghĩa dân tộc khi đất nước bị tấn công từ bên ngoài.
Lãnh đạo Iran chuyển hướng sang an ninh quốc gia
Sau khi hàng loạt quan chức cấp cao thiệt mạng, Iran hình thành cấu trúc lãnh đạo mới. Theo ông Nasr, Lãnh tụ tinh thần tối cao mới được mô tả là nghiêng về nền tảng an ninh, quân sự hơn là nhân vật tôn giáo theo nghĩa truyền thống. Thế hệ lãnh đạo này nhấn mạnh nhà nước dân tộc hơn ý thức hệ cách mạng, với phong cách kỹ trị, thực dụng và phân tán hơn.
Ông Nasr cho rằng Iran tin đã đạt được một số thành quả quan trọng: chính quyền tồn tại, duy trì vị thế khu vực, hình thành thế giằng co với Mỹ và Israel, đồng thời mở rộng ảnh hưởng đối với các tuyến thương mại quan trọng như eo biển Hormuz. Tuy nhiên, Iran chưa chuyển hóa các thành quả chiến trường và chiến lược này thành cấu trúc chính trị khu vực ổn định, bền vững.
Hai kịch bản đều tái định hình Trung Đông
Theo ông Nasr, cuộc chiến Mỹ - Iran có thể đi theo hai hướng. Một là hai nước đạt thỏa thuận, nghĩa là Mỹ phải ở mức độ nhất định chấp nhận thực tế Iran là cường quốc khu vực và có thể dỡ bỏ một phần trừng phạt. Hai là Mỹ phát động cuộc chiến quy mô lớn hơn nhằm thay đổi vị thế chiến lược của Iran. Dù theo hướng nào, cục diện Trung Đông cũng có thể bị định hình lại.
Eo biển Hormuz có thể thành công cụ gây sức ép lâu dài
Ông Nasr cho rằng cộng đồng quốc tế sẽ để các tuyến đường thủy và điểm nghẽn chiến lược bị “vũ khí hóa”. Nếu eo biển Hormuz bị dùng làm công cụ gây sức ép địa chính trị lâu dài, tình huống tương tự có thể lan sang các tuyến hàng hải khác như eo biển Bab el-Mandeb.
Iran có đường bờ biển khoảng 2.000 km, giúp nước này có khả năng can thiệp liên tục vào hoạt động hàng hải qua eo biển dù không dựa vào hải quân truyền thống. Do đó, giải pháp lâu dài có thể không dựa vào sức mạnh quân sự mà là đưa vấn đề eo biển vào đàm phán chính trị, xây dựng bộ quy tắc đi lại ổn định, minh bạch và có thể dự đoán.
Với các nền kinh tế mở cửa thương mại và nhập khẩu năng lượng, điểm mấu chốt không phải là ai “kiểm soát” eo biển Hormuz trên danh nghĩa, mà là tàu thuyền và nguồn cung năng lượng có tiếp tục được vận chuyển theo quy tắc rõ ràng, ổn định hay không. Khi tính dự đoán này biến mất, các nền kinh tế phụ thuộc dầu thô, khí đốt và sản phẩm hóa dầu từ các nước vùng Vịnh sẽ đối mặt với rủi ro cao hơn về chuỗi cung ứng và vận tải biển.