Lạm phát Mỹ tháng 9 tăng nhanh hơn dự báo đã đẩy USD và lợi suất trái phiếu đi lên, làm gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục nâng lãi suất. Áp lực này khiến vàng thế giới có phiên giảm mạnh thứ ba liên tiếp, kéo thị trường trong nước điều chỉnh theo.
Giá vàng hôm nay 14/10/2026: SJC giữ 144,3 triệu đồng, thế giới giảm nhẹ
Giá vàng sáng 14/10 đi ngang trong nước, SJC giữ 141,3 - 144,3 triệu đồng/lượng. Vàng thế giới giảm về 4.162 USD/ounce trước thời điểm Mỹ công bố CPI tháng 9.
Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, SJC mất 1 triệu đồng/lượng
Sáng 15/10, vàng miếng SJC tại TP.HCM và miền Bắc được niêm yết 140,3 triệu đồng/lượng mua vào và 143,3 triệu đồng/lượng bán ra.
So với ngày 14/10, cả hai chiều cùng giảm 1 triệu đồng/lượng. Khoảng cách mua - bán vẫn duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng SJC ngày 15/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Khu vực | Mua vào | Bán ra | So với 14/10 |
|---|---|---|---|
| TP.HCM | 140,30 | 143,30 | -1,00 / -1,00 |
| Miền Bắc | 140,30 | 143,30 | -1,00 / -1,00 |
DOJI cũng hạ vàng miếng SJC 1 triệu đồng/lượng xuống 140,3–143,3 triệu đồng/lượng.
KIM TT/AVPL và nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng giảm 500.000 đồng/lượng, còn 139–143 triệu đồng/lượng. Các dòng vàng nguyên liệu và nữ trang tại DOJI cũng đồng loạt giảm 500.000 đồng/lượng.
Bảng giá vàng DOJI ngày 15/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 14/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 140,30 | 143,30 | -1,00 / -1,00 |
| KIM TT/AVPL | 139,00 | 143,00 | -0,50 / -0,50 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 139,00 | 143,00 | -0,50 / -0,50 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 134,00 | 136,00 | -0,50 / -0,50 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 133,50 | 135,50 | -0,50 / -0,50 |
| Nữ trang 9999 | 138,00 | 141,00 | -0,50 / -0,50 |
| Nữ trang 999 | 137,50 | 140,50 | -0,50 / -0,50 |
| Nữ trang 99 | 135,70 | 139,00 | -0,50 / -0,50 |
Tại PNJ, vàng miếng SJC giảm 1 triệu đồng/lượng xuống 140,3–143,3 triệu đồng/lượng. Nhẫn trơn PNJ 999.9, Kim Bảo, Phúc Lộc Tài và PNJ - Phượng Hoàng cũng cùng giảm 1 triệu đồng/lượng, về 139,8–142,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm vàng nữ trang giảm mạnh hơn, phổ biến khoảng 1,49–1,5 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng PNJ ngày 15/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 14/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 140,30 | 143,30 | -1,00 / -1,00 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 139,80 | 142,80 | -1,00 / -1,00 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 139,80 | 142,80 | -1,00 / -1,00 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 139,80 | 142,80 | -1,00 / -1,00 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 139,80 | 142,80 | -1,00 / -1,00 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 136,50 | 141,00 | -1,50 / -1,50 |
| Vàng nữ trang 999 | 136,36 | 140,86 | -1,50 / -1,50 |
| Vàng nữ trang 9920 | 133,67 | 139,87 | khoảng -1,49 / -1,49 |
| Vàng nữ trang 99 | 133,39 | 139,59 | khoảng -1,49 / -1,49 |
Bảo Tín Minh Châu niêm yết BTMC SJC ở mức 138,8 triệu đồng/lượng mua vào và 143,3 triệu đồng/lượng bán ra. So với ngày trước, chiều mua giảm 500.000 đồng, còn chiều bán giảm 1 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán thu hẹp nhẹ nhưng vẫn ở mức cao 4,5 triệu đồng/lượng.
Bảng giá Bảo Tín Minh Châu ngày 15/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 14/10 |
|---|---|---|---|
| BTMC SJC | 138,80 | 143,30 | -0,50 / -1,00 |
Phú Quý cũng điều chỉnh khá mạnh. Vàng miếng SJC giảm 700.000 đồng ở chiều mua xuống 139,8 triệu đồng/lượng và giảm 1 triệu đồng ở chiều bán, còn 143,3 triệu đồng/lượng.
Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 giảm 700.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, xuống 139,8–142,8 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng Phú Quý ngày 15/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 14/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 139,80 | 143,30 | -0,70 / -1,00 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 139,80 | 142,80 | -0,70 / -0,70 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 139,80 | 142,80 | -0,70 / -0,70 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 139,70 | 142,70 | -0,70 / -0,70 |
| Vàng trang sức 999.9 | 136,50 | 141,00 | -1,00 / -1,00 |
| Vàng trang sức 999 | 136,40 | 140,90 | -1,00 / -1,00 |
| Vàng trang sức 99 | 135,14 | 139,59 | khoảng -0,99 / -0,99 |
Nhìn chung, giá vàng trong nước sáng 15/10 chuyển sang trạng thái giảm khá rõ. Giá bán vàng miếng SJC tại SJC, DOJI, PNJ và Bảo Tín Minh Châu cùng về 143,3 triệu đồng/lượng, thấp hơn 1 triệu đồng so với ngày trước.
Đáng chú ý, mức điều chỉnh ở vàng nữ trang PNJ lên tới khoảng 1,5 triệu đồng/lượng. Điều này cho thấy tác động từ nhịp giảm mạnh của vàng quốc tế đã lan rộng hơn sang nhiều nhóm sản phẩm.
CPI Mỹ nóng hơn dự báo, vàng thế giới giảm mạnh
Theo dữ liệu cập nhật sáng 15/10, vàng thế giới ở khoảng 4.110 USD/ounce, giảm 52 USD so với mức 4.162 USD/ounce ngày 14/10, tương đương khoảng 1,25%.
Biên độ đầu ngày được ghi nhận trong khoảng 4.102–4.111 USD/ounce.
Áp lực giảm xuất hiện mạnh sau khi Mỹ công bố CPI tháng 9 cao hơn dự báo. CPI toàn phần tăng 0,6% so với tháng trước, cao hơn mức tăng 0,4% của tháng 8; so với cùng kỳ năm trước, CPI tăng 3,7%.
Đáng chú ý, CPI lõi không gồm thực phẩm và năng lượng tăng 0,3% trong tháng và 2,6% so với cùng kỳ. Mức tăng theo tháng và theo năm đều cao hơn dự báo của giới phân tích, cho thấy áp lực giá cả chưa hạ nhiệt như thị trường mong đợi.
Một nguyên nhân lớn khiến CPI tăng mạnh là năng lượng. Giá xăng tại Mỹ tăng 9,1% trong tháng 9 và đóng góp hơn một nửa mức tăng CPI toàn phần. Chỉ số năng lượng tăng 5,2% trong tháng và cao hơn 20,4% so với cùng kỳ năm trước.
Ngay sau dữ liệu CPI, đồng USD tăng khoảng 0,5%, trong khi lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ cũng đi lên. Reuters ghi nhận vàng giao ngay trong phiên Mỹ có thời điểm giảm 1,8% xuống 4.083,94 USD/ounce, thấp nhất kể từ ngày 7/10. Hợp đồng vàng tương lai tháng 12 đóng cửa giảm 1,7% xuống 4.107,90 USD/ounce.
Dữ liệu lạm phát cũng làm thay đổi nhanh kỳ vọng đối với Fed. Khả năng Fed tăng lãi suất ngay trong tháng 10 được thị trường nâng lên khoảng 42%, từ khoảng 22% trước khi CPI được công bố. Xác suất có một đợt tăng vào tháng 12 lên khoảng 93%.
Mặt bằng lãi suất cao hơn thường bất lợi cho vàng bởi kim loại quý không mang lại lợi suất. Đồng USD mạnh đồng thời làm vàng trở nên đắt hơn đối với nhà đầu tư sử dụng các đồng tiền khác.
Tuy nhiên, thị trường vẫn tồn tại lực đỡ từ địa chính trị. Giá dầu Brent kết phiên quanh 106,06 USD/thùng trong bối cảnh căng thẳng Trung Đông tiếp tục gia tăng, bao gồm các vụ tấn công liên quan tới Saudi Arabia và rủi ro đối với vận tải qua eo biển Hormuz.
Điều này tạo thế giằng co: căng thẳng địa chính trị hỗ trợ nhu cầu trú ẩn đối với vàng, nhưng giá năng lượng cao lại làm tăng nguy cơ lạm phát và củng cố lý do để Fed duy trì chính sách tiền tệ chặt chẽ.
Dự báo giá vàng 15/10: Mốc 4.100 USD/ounce trở thành vùng quyết định
Sau cú giảm mạnh sau CPI, mốc 4.100 USD/ounce đang trở thành vùng quan trọng nhất đối với vàng thế giới trong ngắn hạn.
Giá sáng nay quanh 4.110 USD/ounce, chỉ cao hơn không đáng kể so với vùng tâm lý này. Nếu lực bán tiếp tục và vàng giảm xuống dưới 4.100 USD/ounce, vùng 4.080–4.090 USD/ounce có thể trở thành khu vực cần theo dõi tiếp theo.
Trong phiên Mỹ vừa qua, giá đã từng xuống quanh 4.084 USD/ounce. Vì vậy, khu vực 4.080–4.100 USD/ounce có thể xuất hiện lực mua bắt đáy nhưng cũng là vùng dễ xảy ra biến động mạnh.
Nếu mất khu vực này, vùng hỗ trợ sâu hơn có thể nằm quanh 4.050–4.060 USD/ounce.
Ở chiều phục hồi, vàng trước hết cần trở lại trên vùng 4.125–4.135 USD/ounce. Nếu vượt được khu vực này, vùng 4.150–4.165 USD/ounce sẽ là thử thách tiếp theo.
Để cải thiện rõ xu hướng ngắn hạn, giá cần quay trở lại trên 4.180 USD/ounce. Mốc 4.200 USD hiện đã trở thành vùng kháng cự xa hơn sau đợt bán mạnh vừa qua.
Biên độ tham khảo trong ngày có thể nằm khoảng 4.080–4.150 USD/ounce, với rủi ro giảm vẫn đang nhỉnh hơn chừng nào USD và lợi suất Mỹ chưa hạ nhiệt.
Đối với thị trường trong nước, SJC đã giảm xuống 143,3 triệu đồng/lượng. Nếu vàng quốc tế giữ được vùng 4.100 USD/ounce và phục hồi lên 4.130–4.150 USD/ounce, giá SJC có thể ổn định quanh 143–144 triệu đồng/lượng.
Ngược lại, nếu vàng thế giới phá xuống dưới 4.080 USD/ounce, áp lực giảm đối với vàng miếng và vàng nhẫn trong nước có thể gia tăng. Khi đó, vùng 142,5–143 triệu đồng/lượng ở chiều bán sẽ là khu vực cần theo dõi.
Kịch bản cơ sở trong ngày 15/10 là giá bán SJC dao động quanh 142,8–143,8 triệu đồng/lượng, trong khi thị trường quốc tế tiếp tục hấp thụ tác động từ CPI và đánh giá lại khả năng Fed tăng lãi suất.
Nhà đầu tư ngắn hạn vẫn cần lưu ý khoảng cách mua - bán. Vàng miếng SJC tại SJC, DOJI và PNJ đang chênh khoảng 3 triệu đồng/lượng; Phú Quý khoảng 3,5 triệu đồng; BTMC khoảng 4,5 triệu đồng/lượng.
Khoảng chênh này khiến việc mua vào khi thị trường biến động mạnh tiềm ẩn rủi ro đáng kể nếu giá tiếp tục điều chỉnh.
Nhìn tổng thể, tín hiệu ngắn hạn của vàng đã xấu đi sau CPI Mỹ. Giá quốc tế rời xa vùng 4.200 USD/ounce và đang kiểm tra khu vực tâm lý 4.100 USD, trong khi SJC giảm 1 triệu đồng/lượng chỉ sau một ngày.
Khả năng vàng phục hồi vẫn còn nếu xuất hiện lực mua bắt đáy hoặc căng thẳng địa chính trị leo thang, nhưng trước mắt USD, lợi suất trái phiếu và kỳ vọng Fed tăng lãi suất đang là ba lực cản lớn nhất.