Đồng USD tăng lên vùng cao nhất 18 tháng, giá dầu leo thang và kỳ vọng Fed còn có thể tăng lãi suất cuối năm đang gây sức ép lên kim loại quý. Tuy nhiên, thị trường có thể biến động mạnh khi Mỹ công bố CPI tháng 9 vào ngày 14/10.
Giá vàng hôm nay 12/10: Vàng miếng giữ giá cao, thế giới có thể biến động mạnh
Giá vàng sáng 12/10 ổn định trong nước, SJC giữ 141,8–144,8 triệu đồng/lượng. Vàng thế giới quanh 4.191 USD/ounce, thị trường chờ CPI Mỹ và tín hiệu mới từ Fed.
Giá vàng SJC giảm 500.000 đồng/lượng
Sáng 13/10, giá vàng miếng SJC tại TP.HCM và miền Bắc được niêm yết 141,3 triệu đồng/lượng mua vào và 144,3 triệu đồng/lượng bán ra.
So với ngày 12/10, cả hai chiều cùng giảm 500.000 đồng/lượng. Khoảng cách mua - bán vẫn giữ ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng SJC ngày 13/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Khu vực | Mua vào | Bán ra | So với 12/10 |
|---|---|---|---|
| TP.HCM | 141,30 | 144,30 | -0,50 / -0,50 |
| Miền Bắc | 141,30 | 144,30 | -0,50 / -0,50 |
Sau khi duy trì 144,8 triệu đồng/lượng trong nhiều ngày, việc SJC hạ xuống 144,3 triệu đồng cho thấy thị trường trong nước đã phản ứng rõ hơn với nhịp điều chỉnh của vàng quốc tế.
DOJI cũng hạ vàng miếng SJC 500.000 đồng/lượng xuống 141,3–144,3 triệu đồng/lượng.
Mức giảm mạnh hơn xuất hiện ở vàng nhẫn. KIM TT/AVPL và nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng cùng giảm 800.000 đồng/lượng xuống 139,5–143,5 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng DOJI ngày 13/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 12/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 141,30 | 144,30 | -0,50 / -0,50 |
| KIM TT/AVPL | 139,50 | 143,50 | -0,80 / -0,80 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 139,50 | 143,50 | -0,80 / -0,80 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 134,50 | 136,50 | Không đổi |
| Vàng nguyên liệu 999 | 134,00 | 136,00 | Không đổi |
| Nữ trang 9999 | 138,50 | 141,50 | Không đổi |
| Nữ trang 999 | 138,00 | 141,00 | Không đổi |
| Nữ trang 99 | 136,20 | 139,50 | Không đổi |
Tại PNJ, vàng miếng SJC giảm 500.000 đồng/lượng xuống 141,3–144,3 triệu đồng/lượng. Nhẫn trơn PNJ 999.9 cùng các dòng Kim Bảo, Phúc Lộc Tài và Phượng Hoàng cũng giảm 500.000 đồng/lượng, xuống 140,8–143,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm vàng nữ trang điều chỉnh mạnh hơn, phổ biến khoảng 890.000–900.000 đồng/lượng.
Bảng giá vàng PNJ ngày 13/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 12/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 141,30 | 144,30 | -0,50 / -0,50 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 140,80 | 143,80 | -0,50 / -0,50 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 140,80 | 143,80 | -0,50 / -0,50 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 140,80 | 143,80 | -0,50 / -0,50 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 140,80 | 143,80 | -0,50 / -0,50 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 137,90 | 142,40 | -0,90 / -0,90 |
| Vàng nữ trang 999 | 137,76 | 142,26 | -0,90 / -0,90 |
| Vàng nữ trang 9920 | 135,06 | 141,26 | khoảng -0,89 / -0,89 |
| Vàng nữ trang 99 | 134,78 | 140,98 | khoảng -0,89 / -0,89 |
Bảo Tín Minh Châu niêm yết BTMC SJC ở mức 139,4 triệu đồng/lượng mua vào và 144,3 triệu đồng/lượng bán ra, cùng giảm 500.000 đồng/lượng so với ngày trước.
Khoảng cách mua - bán lên tới 4,9 triệu đồng/lượng, cao hơn đáng kể mức 3 triệu đồng/lượng tại SJC.
Bảng giá Bảo Tín Minh Châu ngày 13/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 12/10 |
|---|---|---|---|
| BTMC SJC | 139,40 | 144,30 | -0,50 / -0,50 |
Phú Quý có mức giảm không đồng đều giữa vàng miếng, vàng nhẫn và trang sức. Vàng miếng SJC giảm 200.000 đồng ở chiều mua xuống 140,8 triệu đồng/lượng và giảm 500.000 đồng ở chiều bán xuống 144,3 triệu đồng/lượng.
Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 giảm xuống 140,8–143,8 triệu đồng/lượng. Nhóm vàng trang sức giảm mạnh hơn ở chiều bán.
Bảng giá vàng Phú Quý ngày 13/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 12/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 140,80 | 144,30 | -0,20 / -0,50 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 140,80 | 143,80 | -0,20 / -0,40 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 140,80 | 143,80 | -0,20 / -0,40 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 140,70 | 143,70 | -0,20 / -0,40 |
| Vàng trang sức 999.9 | 137,50 | 142,00 | -0,50 / -1,00 |
| Vàng trang sức 999 | 137,40 | 141,90 | -0,50 / -1,00 |
| Vàng trang sức 99 | 136,13 | 140,58 | khoảng -0,50 / -0,99 |
| Vàng trang sức 98 | 134,75 | 139,16 | - |
Nhìn chung, xu hướng sáng 13/10 nghiêng rõ về giảm giá. Giá vàng miếng SJC phổ biến ở mức bán ra 144,3 triệu đồng/lượng, giảm 500.000 đồng so với ngày trước.
Vàng nhẫn cũng hạ nhiệt, trong đó DOJI giảm tới 800.000 đồng/lượng. Diễn biến này cho thấy tác động từ thị trường thế giới đang được phản ánh rõ hơn vào bảng giá trong nước sau giai đoạn SJC duy trì quanh 144,8 triệu đồng/lượng.
Vàng thế giới giảm về 4.169 USD/ounce
Theo dữ liệu sáng 13/10, giá vàng thế giới ở khoảng 4.169 USD/ounce, giảm 22 USD so với mức 4.191 USD/ounce ngày 12/10, tương đương khoảng 0,52%.
Biên độ đầu ngày nằm trong khoảng 4.169–4.176 USD/ounce.
Diễn biến này nối tiếp xu hướng giảm trong phiên quốc tế ngày 12/10. Vàng giao ngay giảm khoảng 0,6% xuống quanh 4.169 USD/ounce sau khi từng phục hồi lên mức cao nhất một tuần.
Sức ép lớn nhất đối với vàng hiện đến từ đồng USD. Chỉ số USD đã tăng lên khoảng 102,58 điểm, mức cao nhất trong khoảng 18 tháng. Đồng bạc xanh mạnh khiến vàng trở nên đắt hơn đối với người mua sử dụng các đồng tiền khác.
Một yếu tố đáng chú ý khác là giá dầu. Brent tăng lên trên 107 USD/thùng khi căng thẳng Trung Đông và các vụ tấn công liên quan tới Saudi Arabia tiếp tục làm gia tăng lo ngại về nguồn cung.
Giá dầu cao đang tạo ra một nghịch lý đối với vàng. Rủi ro địa chính trị có thể thúc đẩy nhu cầu trú ẩn, nhưng năng lượng đắt đỏ cũng làm tăng nguy cơ lạm phát và khiến Fed có thêm lý do duy trì chính sách tiền tệ chặt chẽ.
Đây là một trong những nguyên nhân khiến vàng giảm dù tình hình địa chính trị vẫn căng thẳng.
Thị trường hiện phần lớn dự đoán Fed sẽ giữ nguyên lãi suất trong cuộc họp tháng 10. Tuy nhiên, khả năng xuất hiện thêm một đợt tăng trước cuối năm vẫn ở mức cao.
Theo định giá trên thị trường trong phiên 12/10, xác suất Fed tăng lãi suất vào tháng 12 vào khoảng 87,7%. Nếu kỳ vọng này tiếp tục tăng, vàng có thể chịu thêm sức ép bởi kim loại quý không tạo ra lãi suất.
Tâm điểm tiếp theo là CPI Mỹ tháng 9, dự kiến công bố ngày 14/10. Sau đó, thị trường sẽ đón thêm PPI và doanh số bán lẻ trong ngày 15/10. Đây là nhóm dữ liệu có thể làm thay đổi nhanh kỳ vọng về lãi suất Fed.
Dự báo giá vàng 13/10: Vùng 4.150 USD trở nên quan trọng
Việc vàng giảm từ 4.191 xuống 4.169 USD/ounce khiến đà phục hồi hình thành cuối tuần trước chậm lại đáng kể.
Trong ngắn hạn, vùng 4.150–4.160 USD/ounce có thể được theo dõi như khu vực hỗ trợ gần. Nếu giá duy trì được phía trên vùng này, vàng vẫn có khả năng phục hồi trở lại khu vực 4.180–4.200 USD/ounce.
Mốc 4.200 USD tiếp tục là vùng cản quan trọng. Vàng từng vượt vùng này nhưng chưa duy trì được đà tăng, cho thấy áp lực bán vẫn khá lớn khi giá tiếp cận mức cao.
Nếu vượt rõ 4.200–4.210 USD/ounce sau dữ liệu CPI, vùng 4.230–4.250 USD/ounce có thể trở thành mục tiêu tham khảo tiếp theo.
Ở chiều ngược lại, nếu vàng mất vùng 4.150 USD/ounce, giá có thể kiểm tra lại khu vực 4.130–4.140 USD/ounce. Mốc tâm lý 4.100 USD/ounce sẽ là vùng hỗ trợ sâu hơn nếu USD và lợi suất trái phiếu tiếp tục tăng.
Biên độ tham khảo ngắn hạn có thể nằm trong khoảng 4.140–4.210 USD/ounce trước khi CPI Mỹ được công bố.
Đối với thị trường trong nước, SJC đã lùi từ 144,8 xuống 144,3 triệu đồng/lượng. Nếu vàng quốc tế giữ được vùng 4.150–4.160 USD/ounce, khả năng giá SJC ổn định quanh 144 triệu đồng/lượng vẫn tương đối cao.
Nếu vàng thế giới phục hồi trở lại trên 4.200 USD/ounce, giá bán SJC có thể quay lại vùng 144,8–145,5 triệu đồng/lượng.
Ngược lại, nếu thế giới mất vùng 4.140–4.150 USD/ounce, SJC có thể tiếp tục chịu áp lực giảm và kiểm tra khu vực 143,5–144 triệu đồng/lượng.
Kịch bản cơ sở trong ngày 13/10 là giá bán vàng SJC dao động quanh 144–144,5 triệu đồng/lượng, trong khi thị trường chờ CPI Mỹ để xác định hướng đi rõ hơn.
Người mua vàng ngắn hạn vẫn cần đặc biệt lưu ý chênh lệch mua - bán. Khoảng cách hiện từ 3 triệu đồng/lượng tại SJC, DOJI và PNJ đến gần 5 triệu đồng/lượng tại BTMC. Điều này đồng nghĩa giá phải tăng đáng kể mới đủ bù phần chênh nếu mua và bán lại trong thời gian ngắn.
Nhìn tổng thể, vàng đang bước vào giai đoạn nhạy cảm. USD ở mức cao nhất 18 tháng và kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất cuối năm đang gây sức ép, trong khi căng thẳng Trung Đông vẫn tạo nhu cầu trú ẩn.
CPI Mỹ ngày 14/10 nhiều khả năng sẽ trở thành chất xúc tác quan trọng nhất đối với hướng đi tiếp theo của vàng. Trước thời điểm này, trạng thái giằng co với biên độ lớn vẫn là kịch bản cần được tính đến.