LCĐT - Bánh chưng đen không chỉ là món ăn truyền thống trong ngày tết, mà còn là tinh hoa ẩm thực của đồng bào vùng cao, được đúc kết, gìn giữ từ đời này qua đời khác, gắn liền với những câu chuyện từ ngàn xưa kể lại…
Từ câu chuyện về hương vị bánh chưng đen…
Bên bếp lửa đỏ hồng, bà tôi kể cho tôi nghe về những câu chuyện liên quan đến chiếc bánh chưng đen của đồng bào một số dân tộc vùng cao Lào Cai. Cũng như nhiều dân tộc khác, cứ độ tết đến, xuân về, đồng bào người Tày, Giáy, Nùng… lại gói bánh chưng. Sau vụ lúa mùa, những hạt nếp to, tròn, đầy đặn được cất trữ cẩn thận, đợi tết đến mang xát gạo, gói bánh chưng, thắp hương kính báo tổ tiên thành quả của một năm lao động. Để làm bánh chưng đen, từ những ngày hè, phụ nữ trong bản đã lên rừng tìm chọn những cây núc nác đã già, lấy gỗ về phơi khô. Củi núc nác đốt thành than, khi còn đang rực hồng thì gắp ra, nhúng vào nước suối mát trong, lấy từ đầu nguồn. Than được giã mịn, rây thành bột để trộn với gạo nếp. Cũng như bánh chưng thông thường, bánh chưng đen được gói bằng lá dong xanh với nhân đậu xanh, thịt mỡ, ướp thảo quả nướng chín. Bánh chưng đen của đồng bào Tày, Giáy, Nùng, Dao có điểm giống nhau là hình tròn, một bên hơi gù, giống lưng quả chuối, nên người Dao gọi là bánh gù (riêng đồng bào Dao gói bánh dài hơn, nên còn gọi là bánh chưng dài).
Giúp nhau gói bánh chưng ngày tết.
Ngày trước, chiếc bánh chưng đen rất ít đỗ xanh, vì đỗ xanh rất hiếm, hơn nữa bánh nhân đậu xanh dễ bị thiu, mốc nhanh hơn. Bánh chưng đen sau khi luộc chín, được đồng bào treo trên gác bếp, sau những ngày lao động vất vả, về nhà mang bánh vùi trong than hồng để nướng hoặc rán lên vẫn dẻo, thơm. Dù hoàn cảnh gia đình khác nhau, khi tết đến, mỗi gia đình đồng bào vùng cao cũng dành cả yến gạo để gói bánh và tất cả đều làm bánh chưng đen để giữ nguyên hương vị và nét văn hoá truyền thống. Chiếc bánh chưng đen cứ như thế truyền từ đời này qua đời khác, những đứa trẻ mới lớn cũng được học gói bánh, nghe kể những câu chuyện về tết xưa, về phong tục của đồng bào vùng cao. Khi tôi còn nhỏ, bà ngoại và mẹ không chỉ dạy tôi cách gấp lá sao cho thật đều tay, cách buộc lạt sao cho bánh không bị vỡ khi luộc, mà còn nói về những phong tục, quan niệm của đồng bào Nùng khi dâng chiếc bánh chưng lên tổ tiên. Và với tôi, bánh chưng đen không đơn thuần chỉ là một món ăn, mà còn là minh chứng cho những tháng ngày vất vả, là sự cô đúc tinh hoa những giá trị truyền thống.
…và câu chuyện từ ngàn xưa kể lại
Cũng như tôi, tuổi thơ của nhiều đứa trẻ lớn lên bên tiếng sôi sùng sục của nồi bánh đêm trước tết, của tiếng bếp lửa hồng tí tách, bập bùng. Có lẽ, những đứa trẻ là vui nhất, háo hức nhất khi tết đến, xuân về. Khi gói bánh chưng đen, gia đình nào có trẻ con thường không quên gói những chiếc bánh nhỏ, xinh để chúng mang theo chơi tết. Những chiếc bánh được luồn dây lạt thành chiếc vòng lúc lỉu để trẻ con cầm theo hoặc đeo vào cổ, khoe với bạn bè. Ngày còn nhỏ, tôi nhớ ông, bà tôi từng dặn, đi chơi đeo bánh chưng đen vào cổ để “trừ tà”, cả năm không gặp xúi quẩy. Màu đen từ than cây núc nác nhuộm hạt gạo tròn đầy khi ăn rất tốt cho sức khỏe, đồng thời loại bỏ những điều xấu. Trong những đêm thức nghe ông, bà kể chuyện “ngày xưa”, chuyện năm tháng kháng chiến chống quân xâm lược, khi người già, phụ nữ và trẻ nhỏ vào rừng, lên núi tránh giặc, những trai làng ngày ấy kiên cường với cung, nỏ, với những khẩu súng săn tự chế ở lại chiến đấu giữ bản, làng, mà lương thực là chiếc bánh chưng đen. Rồi cả thời khắc, đồng bào nơi đây đứng lên làm cách mạng, hay chuyện đứng xếp hàng đợi đến lượt nhận thịt về gói bánh chưng đen thời bao cấp. Nhiều đứa trẻ như tôi không rõ về chiến tranh, nhưng lại có thể vanh vách kể lại với thầy cô, bè bạn về lịch sử quê hương, về chiếc bánh chưng đen.
Nghe chuyện kháng chiến thì nhiều, nhưng câu chuyện đọng lại trong lòng những đứa trẻ như chúng tôi là sự đoàn kết giữa các dân tộc. Đó là câu chuyện ngày xửa, ngày xưa, đồng bào Nùng lên núi tránh giặc và sống chung với đồng bào Mông, hai dân tộc là một, cùng ăn, cùng lao động và cùng truyền lại cho nhau kinh nghiệm vót chông, bắn nỏ, cách dùng lá, cây rừng để làm công cụ chống giặc. Cho dù ngày tết, đồng bào Nùng và đồng bào Mông không gói bánh chưng giống nhau, nhưng khi khó khăn, tình đoàn kết lại sâu sắc hơn nhiều.
Những câu chuyện bên nồi bánh chưng đen cứ thế nuôi dưỡng tuổi thơ, hấp dẫn chúng tôi hơn cả truyện thần thoại, cổ tích về mặt trăng, mặt trời, về những vì sao. Cũng theo đó, câu chuyện bánh chưng đen đi vào giấc mơ những đứa trẻ ngủ quên trong vòng tay người lớn, những đôi má ửng hồng bên bếp lửa reo vui, ấm áp, bập bùng.