Quay về E-magazine Theo dõi Báo Lào Cai trên Google News
Từ con đường tơ lụa trên sông Hồng đến trục kinh tế động lực “chung dòng sông cùng ý tưởng”: Bài 2: Những thương cảng trên sông Hồng

Từ con đường tơ lụa trên sông Hồng đến trục kinh tế động lực “chung dòng sông cùng ý tưởng”: Bài 2: Những thương cảng trên sông Hồng

Sông Hồng - con sông gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền văn minh người Việt, không chỉ là huyết mạch giao thông quan trọng mà còn từng chứng kiến sự hưng thịnh của nhiều thương cảng sầm uất. Những bến cảng trên sông Hồng đã góp phần thúc đẩy giao thương, kết nối kinh tế và làm nên diện mạo của các đô thị ven sông từ hàng trăm năm trước.

b1.jpg

Bảo Thắng Quan được biết đến là một trong những cửa ngõ quan trọng phát triển giao thương trên sông Hồng. Ở nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, Bảo Thắng Quan đã trở thành điểm nút giao thương, nơi mà hàng hóa từ vùng núi cao và các vùng biên giới được tập kết để chuyển xuống đồng bằng. Bảo Thắng quan được xem là "cửa ngõ" quan trọng Bắc giới, là nơi kiểm soát tuyến đường giao thương và quân sự từ Trung Hoa xuống Đại Việt.

16.jpg

Theo sử liệu, một khối lượng lớn những hiện vật thời kỳ văn hóa Đông Sơn được phát hiện ở thượng nguồn sông Hồng, nhất là khu vực đô thị Lào Cai ngày nay. Thời Hùng Vương dựng nước, các dân tộc sinh sống trên địa bàn đã phát triển ngành trồng trọt, chăn nuôi và các nghề thủ công như dệt vải, đúc đồng. Họ trao đổi với các dân tộc bên kia biên giới bằng hình thức vật trao đổi vật. Chính sử Trung Quốc đã ghi “Dân biên giới Giao Chỉ đem cá, hến đổi lấy gạo, vải tấm...”.

18.jpg

Ngoài nhiệm vụ phòng thủ, Bảo Thắng Quan còn là nơi kiểm soát thương mại, đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế biên giới. Bảo Thắng Quan là một trạm trung chuyển quan trọng trên con đường giao thương từ Trung Hoa vào Đại Việt. Thời Lê Trung Hưng (1870), khu cửa khẩu Lão Nhai (tên gọi xưa của Lào Cai) đã thu thuế muối xuất cho nước Điền (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ngày nay) mỗi năm trên 1.000 lạng bạc. Thời Tây Sơn, mỗi năm Bảo Thắng Quan thu 2.000 lạng bạc. Năm Gia Long thứ 18 có mức thu 42.100 quan tiền, chỉ đứng sau cửa quan Trình Xá và cửa quan Mễ Sở. Hàng hóa như tơ lụa, gốm sứ, trà, gia vị được trao đổi tại đây, tạo nên một vùng kinh tế nhộn nhịp và sự giao thoa văn hóa sâu rộng. Các thương nhân Trung Hoa, người Nùng, Tày, Kinh đã tổ chức nhiều phiên chợ, góp phần hình thành những trung tâm thương mại sầm uất và các phong tục độc đáo. Những đoàn thuyền chở đầy lâm sản, thảo dược quý và khoáng sản từ các vùng cao nguyên được tập kết để trao đổi với hàng hóa phong phú từ đồng bằng sông Hồng.

29.jpg

Thời nhà Nguyễn, nhờ đẩy mạnh giao lưu buôn bán dọc sông Hồng, thuế quan qua Lão Nhai tăng mạnh. Bảo Thắng Quan trở thành cửa khẩu lớn thứ ba của cả nước, có tuần ty trông nom công việc thu thuế hằng năm.

17.jpg

Trải qua bao biến cố lịch sử, dấu tích ít nhiều Bảo Thắng Quan đã mai một. Ngày nay, những dấu tích cố thủ đặc trưng như những bãi thành đá, các trạm gác đã không còn. Tuy nhiên, với những gì còn lại, Bảo Thắng Quan vẫn là một dấu ấn lịch sử để nhớ về một thời hoàng kim.

b-2.jpg

Vùng đất Bạch Hạc (nay thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) vẫn được xem là nơi giao thoa giữa những dòng sông huyết mạch, nơi hội tụ của văn hóa và thương nghiệp từ thời kỳ cổ xưa. Với vị trí chiến lược tại ngã ba sông, nơi đây từng là một thương cảng sầm uất, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, văn hóa của vùng miền núi trung du và đồng bằng Bắc Bộ.

21.jpg

Nói về sự am hiểu vùng đất Bạch Hạc, nhiều người mách chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Hữu Điền, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ giai đoạn 2003 - 2005, người đã chứng kiến quá trình xây dựng và phát triển Phú Thọ từ những ngày đầu tái lập. Gia đình ông Điền hiện đang sinh sống tại chính phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì.

20.jpg

Nói đến Bạch Hạc, điều đầu tiên ông Điền không thể không nhắc tới đó chính là nơi “Tam giang hội tụ” khi sông Lô, sông Đà và sông Hồng gặp nhau tại Bạch Hạc. Từ Bạch Hạc nhìn về phía Đông Nam, bên tả là dãy Tam Đảo trùng điệp, bên hữu là dãy núi Ba Vì tạo nên thế “sơn chầu, thủy tụ”. Vì vậy, Bạch Hạc trở thành địa điểm có vị trí chiến lược từ xưa đến nay: “Thương cảng Bạch Hạc nằm trên con đường thủy quan trọng bậc nhất của Đại Việt xưa. Nơi đây là giao điểm của ba dòng sông lớn, tạo nên một mạng lưới giao thương sôi động và phồn vinh”, ông Điền nói.

Nơi tam giang hội tụ.

Từ xa xưa, bến sông Bạch Hạc đã nổi tiếng với những phiên chợ đông đúc, nơi mà thương nhân từ khắp các vùng miền hội tụ để trao đổi hàng hóa. Từ vùng cao Tây Bắc, các sản vật quý như gỗ, lâm thổ sản, quế, bạc, vàng… theo thuyền bè xuôi theo các dòng sông về Bạch Hạc, rồi từ đây tiếp tục tỏa đi khắp kinh thành Thăng Long và các vùng châu thổ sông Hồng. Ngược lại, hàng hóa từ đồng bằng như muối, vải vóc, đồ gốm sứ, nông sản cũng theo đường thủy ngược lên vùng cao, phục vụ đời sống người dân miền thượng du. Điều đặc biệt, không chỉ thương nhân trong nước, mà các thương nhân từ Trung Quốc, Ấn Độ và cả châu Âu cũng đã từng đặt chân tới Bạch Hạc, biến nơi đây trở thành một trong những thương cảng có tầm vóc quốc tế trong lịch sử Việt Nam.

19.jpg

Vào thời Lý – Trần, Bạch Hạc đã phát triển thành một thương cảng lớn với nhiều bến bãi, khu chứa hàng hóa, chợ phiên tấp nập kẻ mua người bán. Những đoàn thuyền buôn ngược xuôi trên sông Hồng, sông Lô, sông Đà đã tạo nên một bức tranh sôi động của kinh tế và giao thương. Sang thời Hậu Lê và nhà Nguyễn, thương cảng Bạch Hạc vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng dần chịu sự cạnh tranh từ các trung tâm buôn bán mới nổi như Kẻ Chợ (Hà Nội), Hải Phòng, Nam Định. Dù vậy, trong suốt nhiều thế kỷ, Bạch Hạc vẫn là điểm dừng chân quan trọng trên hành trình giao thương của thương nhân vùng đồng bằng và miền núi.

Trong dòng chảy thương mại thời phong kiến, cảng Bạch Hạc không chỉ đóng vai trò là cửa ngõ giao thương giữa miền núi và đồng bằng, mà còn là điểm dừng chân của các thương nhân trên con đường từ biên giới về kinh thành Thăng Long (Hà Nội).

b-3.jpg

Từ bao đời nay, vai trò quan trọng của sông Hồng đối với đời sống cư dân đôi bờ chốn kinh đô nước Việt – Kinh thành Thăng Long. Nhân dân đã được đúc kết thành kinh nghiệm: “Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ”. Vì vậy, ngay từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long vào năm 1010, sông Hồng đã trở thành một tuyến đường vận tải chiến lược, nối liền kinh thành với các vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, xa hơn nữa là Trung Quốc, Chăm Pa và các quốc gia Đông Nam Á.

22.jpg

Đã có hơn 20 năm nghiên cứu về lịch sử kinh thành Thăng Long, vì vậy, nhà báo, nhà Hà Nội học Nguyễn Ngọc Tiến am hiểu mọi ngóc ngách về chốn kinh đô sầm uất xưa: “Với sông Hồng đóng vai trò là "con đường tơ lụa trên nước", nơi mà những sản vật quý giá như lụa tơ tằm, đồ gốm sứ, nông sản (gạo, chè, vừng, mía đường...), hương liệu, dược liệu từ miền núi phía Bắc và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được trao đổi, buôn bán sôi động. Những mặt hàng này không chỉ phục vụ đời sống dân chúng mà còn được triều đình sử dụng trong các nghi lễ, cống phẩm và thương mại quốc tế”, ông Tiến chia sẻ.

tuyen-bai-song-hong.jpg

Nhà Hà Nội học Nguyễn Ngọc Tiến cho biết, bến sông Hồng từng là nơi tập trung những chợ đầu mối lớn, như bến Đông Bộ Đầu, bến Chương Dương, nơi các thương nhân gặp gỡ, trao đổi và buôn bán tấp nập. Những thương nhân từ miền ngược xuôi về với thổ sản, lâm thổ sản quý hiếm. Thương nhân miền xuôi mang theo cá, muối, hải sản... Còn các tàu buôn ngoại quốc chở đến hàng hóa từ phương Tây và phương Đông, tạo nên một mạng lưới giao thương sầm uất.

24.jpg

Chính nhờ sông Mẹ, Thăng Long – Kẻ Chợ mới có thể vươn mình trở thành một trung tâm kinh tế bậc nhất của Đại Việt. Từ những chợ ven sông, hoạt động buôn bán lan rộng khắp kinh thành Thăng Long, hình thành nên những phố nghề - phố hàng bốn mùa tấp nập. Từ đó, những Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Buồm...ra đời. Chốn kinh thành không khó bắt gặp những phiên chợ tấp nập, nơi mà lụa là, gấm vóc trải dài theo bước chân của thương nhân, góp phần hình thành lên văn hóa “buôn có bạn, bán có phường”.

23.jpg

Với vị trí chiến lược nằm ở đồng bằng sông Hồng, Thăng Long đã trở thành nơi tập trung của hàng nghìn thương nhân, không chỉ từ các vùng miền trong nước mà còn từ các quốc gia lân bang như Trung Quốc, Nhật Bản và các nước phương Tây. Sông Hồng đóng vai trò huyết mạch, kết nối Thăng Long với các vùng miền rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa từ nội địa ra các bến cảng ven biển. Sông Hồng không chỉ là huyết mạch về địa lý mà còn là dòng chảy phồn vinh của nền kinh tế Đại Việt suốt nhiều thế kỷ. Đặc biệt, tại kinh thành Thăng Long, thương mại trên sông Hồng phát triển rực rỡ, góp phần biến nơi đây trở thành trung tâm giao thương sầm uất bậc nhất khu vực Đông Nam Á.

b-4.jpg

Nói về sông Hồng, điều đầu tiên mà Giáo sư Sử học Lê Văn Lan khẳng định đó chính là dòng sông kiến tạo nền văn minh đất nước ta qua hàng nghìn năm. Trước sự hùng vĩ của sông Hồng, người Việt đã dùng những danh xưng cao quý nhất để gọi dòng sông này nhằm thể hiện sự kính trọng và tôn quý như sông Cái (sông Mẹ), sông Cả (sông Lớn), rồi đồng nhất là sông Hồng.

25.jpg

Nhìn vào lát cắt lịch sử giao thương trên sông Hồng, Giáo sư Sử học Lê Văn Lan chỉ ra rằng nguồn nước mang nặng phù sa tạo nên những vùng sản xuất nông nghiệp trù phú, làng nghề truyền thống suốt một dải từ miền núi đến đồng bằng. Và chính sông Hồng ấy cũng là con đường thông hành đầu tiên và ngắn nhất để chở hàng đi ngược, đi xuôi. Từ đó, đã dần hình thành tuyến đường giao thương huyết mạch quan trọng của nước ta qua nhiều thế kỷ.

28.jpg

“Con đường tơ lụa” trên sông Hồng không chỉ là câu chuyện về giao thương và kinh tế, mà còn là biểu tượng của sự giao lưu văn hóa, tín ngưỡng và tinh thần giữa các vùng miền. Từ Bảo Thắng Quan, Bạch Hạc, Thăng Long đến Phố Hiến, Thái Bình, mỗi địa danh trên con đường tơ lụa này đều mang trong mình những câu chuyện riêng về sự phát triển thịnh vượng của đất nước qua nhiều thời kỳ.

31.jpg

Từ thế kỷ XIX, khi các tuyến đường bộ và đường sắt dần phát triển, vai trò của các thương cảng trên sông Hồng suy giảm. Nhiều bến cảng sầm uất xưa giờ chỉ còn là những dấu tích trong ký ức. Dù vậy, những di sản mà các thương cảng này để lại vẫn còn hiện diện trong nếp sống, văn hóa và kiến trúc của nhiều đô thị ven sông. Phố Hiến vẫn còn đó những ngôi nhà cổ rêu phong, Nam Định, Thái Bình vẫn vang vọng tiếng thoi dệt vải. Thăng Long (Kẻ Chợ) nay là Hà Nội – vẫn tiếp tục là trung tâm kinh tế, văn hóa quan trọng của đất nước. Dòng sông Hồng vẫn tiếp tục chảy, mang theo những dấu ấn lịch sử không phai mờ.

Giáo sư Sử học Lê Văn Lan nói về tên sông Hồng.

Dù thời gian có làm mờ nhạt đi sự nhộn nhịp của những bến sông xưa, nhưng ký ức về một thời giao thương phồn thịnh vẫn mãi là một phần không thể thiếu trong lịch sử dân tộc. Những bến bờ xưa dù có thay đổi, nhưng câu chuyện về “con đường tơ lụa” trên sông Hồng vẫn mãi là một phần không thể thiếu trong hành trình phát triển và vươn ra thế giới của đất nước.

30.jpg

Hành trình tìm lại những dấu tích của các thương cảng trên sông Hồng không chỉ là cuộc hành trình về lịch sử, mà còn là lời nhắc nhở về giá trị của sự giao thương và hội nhập trong quá khứ, để từ đó có thể phát huy tiềm năng của dòng sông này trong tương lai.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Sẵn sàng đón làn sóng đầu tư xanh

Sẵn sàng đón làn sóng đầu tư xanh

Nhìn vào những chuyển động từ thực địa tại các khu công nghiệp trọng điểm như: Phía Nam, Minh Quân hay Âu Lâu, có thể thấy tinh thần nhất quán: Phát triển kinh tế phải song hành chặt chẽ với bảo vệ môi trường. Lào Cai đang tập trung tối đa nguồn lực để nâng cấp và xây dựng hệ thống xử lý chất thải đồng bộ, coi đây là “giấy thông hành” để địa phương kiến tạo môi trường sản xuất, kinh doanh bền vững, sẵn sàng đón các làn sóng đầu tư xanh.

Sinh kế bền vững ở Khao Mang

Sinh kế bền vững ở Khao Mang

Ở xã Khao Mang, những năm gần đây, với giá trị kinh tế cao gấp chục lần so với trồng giống ngô thường, cây ngô mini không chỉ là sinh kế, còn là minh chứng cho sự nhạy bén, dám thay đổi tư duy của nông dân vùng cao.

Lào Cai tăng cường kiểm tra, chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô 2026

Lào Cai tăng cường kiểm tra, chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô 2026

Trước diễn biến thời tiết nắng nóng kéo dài, nguy cơ cháy rừng ở mức cao (cấp IV - V), ngày 10/4,  Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai đã ban hành Công văn số 2768/SNNMT-VP về việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và triển khai đồng bộ các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn toàn tỉnh.

Các địa phương chủ động phòng ngừa cháy rừng trước diễn biến thời tiết cực đoan

Các địa phương chủ động phòng ngừa cháy rừng trước diễn biến thời tiết cực đoan

Trước diễn biến thời tiết ngày càng cực đoan, nắng nóng kéo dài, độ ẩm không khí giảm, nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh Lào Cai đang ở mức báo động. Tại nhiều địa phương, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng đang được triển khai quyết liệt, đồng bộ với nhiều giải pháp cụ thể, sát thực tế, như lập chốt kiểm soát, tổ chức tập huấn đến đẩy mạnh tuyên truyền lan tỏa thông điệp bảo vệ rừng tới từng thôn, bản.

Mùa gieo hi vọng ở thung lũng Nà Lặc

Mùa gieo hi vọng ở thung lũng Nà Lặc

Cuối tháng 3, đầu tháng 4, sau những cơn mưa đầu mùa, các tràn ruộng bậc thang ở vùng cao vào mùa cày cấy. Tại thung lũng Nà Lặc, xã Trịnh Tường, nơi từng chịu nhiều thiệt hại do thiên tai gây ra, đồng bào các dân tộc nỗ lực cải tạo lại những tràn ruộng bị đất đá vùi lấp để cấy lúa, với hi vọng vào vụ mùa mới mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no.

Đề xuất xăng E10 bán rộng rãi trên cả nước từ 30/4

Đề xuất xăng E10 bán rộng rãi trên cả nước từ 30/4

Liên quan đến nội dung về xăng sinh học E10, tại họp báo thường kỳ quý I/2026 của Bộ Công Thương, ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương cho biết, với việc triển khai đồng bộ các giải pháp, việc đưa xăng sinh học E10 vào phân phối trong tháng 4/2026 được đánh giá khả thi.

Hướng đi bền vững cho cây chè

Hướng đi bền vững cho cây chè

Việc đẩy mạnh sản xuất chè theo hướng hữu cơ, an toàn sinh học đang trở thành xu thế tất yếu tại Lào Cai, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ngành chè địa phương.

Lào Cai triển khai kế hoạch phát triển kinh tế nhà nước theo Nghị quyết của Bộ Chính trị

Lào Cai triển khai kế hoạch phát triển kinh tế nhà nước theo Nghị quyết của Bộ Chính trị

Ngày 08/4, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai đã ban hành Kế hoạch số 70-KH/TU thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước trên địa bàn tỉnh, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, tư duy và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Công nghiệp chế biến, chế tạo: “Đầu kéo” chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Công nghiệp chế biến, chế tạo: “Đầu kéo” chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Công nghiệp chế biến, chế tạo đang từng bước khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng của tỉnh, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao giá trị gia tăng. Tuy nhiên, để duy trì đà phát triển, lĩnh vực này đang đối mặt với những thách thức về nguyên liệu, chi phí sản xuất và năng lực doanh nghiệp.

Bản Liền vào vụ chè xuân

Bản Liền vào vụ chè xuân

Bước vào trung tuần tháng 3 đến hết tháng 4 hằng năm, xã Bản Liền lại rộn ràng vào vụ thu hoạch chè xuân - mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là thời điểm thu hút đông đảo du khách đến tham quan, trải nghiệm.

Vụ cam chín muộn

Vụ cam chín muộn

Sau Tết Nguyên đán, khi phần lớn các loại cây ăn quả có múi đã qua vụ thu hoạch, những vườn cam V2 chín muộn tại các xã Nghĩa Tâm, Chấn Thịnh mới bước vào mùa chín rộ. Trên những triền đồi xanh mướt, từng chùm cam vàng óng, căng mọng vẫn bám cành, mang theo hy vọng về một mùa quả ngọt, no ấm cho người trồng.

fb yt zl tw