Quay về E-magazine Theo dõi Báo Lào Cai trên Google News
Từ con đường tơ lụa trên sông Hồng đến trục động lực kinh tế “chung dòng sông cùng ý tưởng”: Bài 1: “Con đường tơ lụa” trên sông Hồng

Từ con đường tơ lụa trên sông Hồng đến trục động lực kinh tế “chung dòng sông cùng ý tưởng”: Bài 1: “Con đường tơ lụa” trên sông Hồng

Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, có nhiều “con đường tơ lụa” được nhắc đến hiện nay, như tuyến đường thương mại Đông - Tây giữa Hy Lạp và Trung Quốc bắt đầu mở trong thế kỷ I và II TCN; hay “con đường tơ lụa” chính đi từ thủ đô của Trung Quốc qua Trung Á đến châu Âu... Và có một “con đường tơ lụa” nổi tiếng trên sông Hồng vẫn chảy suốt từ thời cổ đại đến hôm nay, đang trở thành “con đường tơ lụa” trong thời đại mới.

sda.jpg

Theo nghiên cứu của Tiến sỹ Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ứng dụng văn hóa và du lịch, thời cổ đại, giao lưu văn hoá, trao đổi kinh tế giữa Lào Cai và Vân Nam qua lưu vực sông Hồng diễn ra khá mạnh mẽ. Do vậy, Lào Cai sớm là một trung tâm kinh tế, chính trị trọng yếu dọc sông Hồng. Thông qua những di tích, hiện vật văn hóa tìm được đã cho thấy Lào Cai có mối quan hệ giao lưu văn hoá, trao đổi kinh tế với Vân Nam (đặc biệt là văn hoá Điền) rất chặt chẽ. Thông qua vùng Vân Nam, Lào Cai đã tiếp cận với còn đường tơ lụa Trung - Ấn được mở ra dưới triều Hán Vũ Đế. Từ con đường tơ lụa này, các sản vật của vùng Ấn Độ, Trung Á, vùng Trung Nguyên Trung Quốc đã đến với Lào Cai.

11.jpg

Theo phân tích của Tiến sỹ Trần Hữu Sơn, năm 649, nước Nam Chiếu ở Vân Nam được thành lập. Giao lưu văn hoá và trao đổi kinh tế giữa Nam Chiếu với Giao Chỉ (vùng Bắc Bộ Việt Nam) càng được đẩy mạnh qua vùng Lào Cai. Tuyến giao thông từ Giao Chỉ đi Nam Chiếu được tu bổ và trở thành tuyến giao thông huyết mạch dọc sông Hồng. Giả Đam - một tể tướng nhà Đường khoảng niên hiệu Trinh Nguyên đã viết trong sách “Đương Thư Giả Đam” về con đường từ An Nam (Việt Nam) vào Vân Nam: “An Nam qua Thái Bình Giao Chỉ hơn 100 dặm đến Phong Châu, lại qua Nam Điền 130 dặm đến huyện Ân Lâu - Yên Bái, đi đường thuỷ 40 dặm đến Trung Thành Châu (huyện Trấn Yên hiện nay), lại 200 dặm đến Đa Lợi Châu (huyện Văn Yên hiện nay), lại 300 dặm đến Chu Quý Châu (huyện Văn Bàn hiện nay), lại 400 dặm đến Đan Đường Châu (Cam Đường hiện nay) đều là đất sinh lão, lại 450 dặm đến Cổ Dũng Bộ (Lâm An - Vân Nam)”.

z6449660259540-d11b042460173e86df8774e49115379c.jpg
Bản đồ sông Hồng từ Lao Kay (Lào Cai) đến Hong Hoa (Hưng Hóa) năm 1873. Ảnh: Tư liệu

Phàn Xước - một viên quan nhà Đường làm việc tại Tống Bình (Hà Nội) đã viết tác phẩm “Man Thư” vào đầu niên hiệu Hàm Thông đời Đường Y Tông Thôi Đường (860). Tác phẩm nổi tiếng “Man Thư” của Phàn Xước có 10 quyển. Trong đó quyển I viết về đường xá ở Vân Nam có ghi rõ nhật trình từ Tống Bình (Hà Nội) đến Vân Nam: “Từ An Nam đi đường thủy lên Phong Châu 2 ngày, Đăng Châu 2 ngày, đến Trung Thành châu 3 ngày, đến Đa Lợi Châu 2 ngày, đến Kỳ Phú Châu 2 ngày, đến Cam Đường châu 2 ngày, đến Hạ Bộ 3 ngày, đến sách Lê Vũ Bôn 4 ngày, đến Cổ Dũng Bộ 5 ngày. Trở lên cộng 25 ngày đều là đường thủy”.

z6449742706674-7e15512741b5e54356e0f1cdea9e6f19.jpg
Bản đồ sông Hồng năm 1874. Ảnh: Tư liệu

Giả Đam đều xác định con đường huyết mạch nối liền Vân Nam và đồng bằng Bắc Bộ qua Lào Cai đã phát triển khá mạnh từ thời Đường. Quốc gia Nam Chiếu Đại Lý nhờ có tuyến giao thông huyết mạch qua sông Hồng đã góp phần thông thương với vùng biển Đông Nam Á.

Trước hết, qua sông Hồng, hàng hóa của Giao Chỉ đã vận chuyển cung cấp cho Nam Chiếu, Đại Lý quốc các mặt hàng chủ yếu là muối, vỏ sò, ngọc ngà, châu báu, các sản phẩm của biển... Vỏ sò là sản phẩm quý hiếm trở thành tiền tệ dùng trong trao đổi (bảo bối). Vỏ sò được dùng làm tiền tệ kéo dài suốt từ Trung hậu kỳ của quốc gia Nam Chiếu đến thời kỳ Đại Lý. Qua vùng sông Hồng, muối ăn của Giao Chỉ (Việt Nam) và các quốc gia Đông Nam Á khác được vận chuyển đến Vân Nam. Do giá trị của muối ăn nên nó đã trở thành một loại tiền tệ đặc biệt, dùng cả trong sinh hoạt, trao đổi hàng hoá. Lượng muối vận chuyển qua sông Hồng đến Vân Nam khá lớn, nó chỉ hạn chế vào năm 1885.

6-1744.jpg

Hàng hoá của Nam Chiếu, Đại Lý vào Lào Cai và xuống vùng đồng bằng Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng, đồ sắt (vũ khí, đồ sinh hoạt...) và tơ lụa. Mặt khác, Vân Nam là cửa ngõ thông thương với các quốc gia Ấn Độ với vùng Trung Nguyên Trung Quốc nên hàng hoá của các nước Tây Á, Trung Á, Trung Quốc giao lưu qua sông Hồng khá phổ biến. Trên tuyến biên giới lưu vực sông Hồng, các triều đại phong kiến Việt Nam, Trung Quốc đều xây dựng một số trung tâm buôn bán lớn. Thời nhà Lý đến thời Lê ở Việt Nam chú trọng phát triển các chợ đường biên, đồng thời dành riêng một số khu vực trên sông Hồng xây dựng thành trung tâm thương mại như vùng Bảo Thắng (Lào Cai), Tam Kỳ (Bạch Hạc - Việt Trì), Trúc Hoa (Phú Thọ)... Nước Nam Chiếu còn lập một cơ quan chuyên quản lý mậu dịch là “Hoà Sảng”. Đến thời Nguyên, Minh, Thanh, các triều đại phong kiến đều có cơ quan chuyên trách buôn bán. Ở Việt Nam, dưới triều Nguyễn đã có 2 cơ quan phụ trách buôn bán là Ty Hành Nhân và Ty Tào Chính.

Các chợ đường biên, nhân dân 2 bên biên giới trao đổi buôn bán mạnh mẽ. Năm 1012, người Nam Chiếu đem hàng vạn ngựa sang buôn bán ở các huyện vùng biên. Các chợ Bảo Thắng (Lào Cai), Mạn Hảo (Mông Tự) Bách Lẫm (Yên Bái)... đều trở thành trung tâm buôn bán khá sầm uất. Nhiều thuyền buôn tấp nập neo đậu ở bến sông. Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, gần các chợ này còn hình thành các khu buôn bán, xưởng sản xuất tàu, thuyền. Một số thương nhân người Hoa còn xin cư trú ngay gần chợ, lập nên các phố buôn bán sầm uất của người Minh, người Thanh. Đầu thế kỷ XIX, ở Thuỷ Vĩ có 69 người, Văn Bàn có 4 người Minh, Thanh (người Hoa). Họ đều phải đóng thuế, chấp hành luật lệ của nhà Nguyễn. Mỗi năm người Minh, người Thanh ở Thuỷ Vĩ đóng thuế là 85 lạng bạc. Cửa quan Bảo Thắng giữa thế kỷ XVIII thu thuế buôn muối được 180 hốt bạc. Cuối thế kỷ XVIII thu 1.000 lạng bạc thuế muối. Hàng tơ lụa, thuốc nổ... cũng nhập về Việt Nam qua vùng biên giới Lào Cai.

9.jpg

Như vậy, trong suốt thời kỳ cổ trung đại, trao đổi kinh tế hàng hoá giữa Lào Cai và Vân Nam đã diễn ra khá mạnh mẽ qua lưu vực sông Hồng. Nguyên nhân chủ yếu là do giao thông vùng lưu vực sông Hồng được khai thác và phát triển. Thời cổ đại giao thông qua sông Hồng chủ yếu là đường thủy, đường bộ chỉ là những lối mòn. Niên hiệu Vĩnh Lạc nhà Minh, dọc sông Hồng đã đặt 7 trạm ngựa. Đến thời nhà Lê Trung Hưng, giao thông dọc sông Hồng được cải tạo, nâng cấp. Năm Tân Sửu (1721) niên hiệu Bảo Thái, nhà Lê hạ lệnh đặt dịch lộ dọc sông Hồng. Từ cửa ải Trình Lạng (Lũng Pô - Bát Xát hiện nay) đến trang Bách Lẫm (thành phố Yên Bái hiện nay) đặt 16 nhà trạm. Mặt khác, suốt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, Nhà nước quân chủ độc lập Việt Nam đều luôn áp dụng chiến lược “Hoà hiếu với phương Bắc”. Do đó quan hệ văn hoá, kinh tế ở vùng biên giới được tự do trao đổi. Một yếu tố quan trọng khác thúc đẩy giao lưu văn hoá, trao đổi kinh tế vùng lưu vực sông Hồng giữa Việt Nam và Trung Quốc là các đợt di cư của các tộc người thiểu số và người Hoa. Các đợt di cư này diễn ra khá mạnh ở cuối thời kỳ nhà Minh và suốt thời nhà Thanh. Chính quyền các châu, phủ Việt Nam đều dành đất cho người Hoa cư trú, chiêu mộ họ vào làm phu mỏ, thậm chí lập làng, lập phố riêng. Sống xen kẽ với cư dân Việt Nam, văn hoá người Hoa và văn hoá người Việt có nhiều điều kiện giao lưu, ảnh hưởng lẫn nhau. Vùng đô thị có người Hoa sinh sống trở thành sầm uất như nhận xét của nhà sử học Phạm Thuận Duật giữa thế kỷ XIX: “Phố Minh Hương ở thị trấn, phố Bảo Thắng ở Thuỷ Vĩ, đồn Phong Thu ở Chiêu Tấn, chợ Hoa Lâm ở Thanh Sơn, đều là nơi đô hội”.

h-3.jpg

Thời cận đại, giao lưu, trao đổi qua đường thủy sông Hồng tiếp tục phát triển. Khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ và lăm le tấn công Hà Nội, Lào Cai được đầu tư xây dựng thành cửa ngõ tiếp nhận viện trợ, thành hậu cứ quan trọng chống thực dân Pháp xâm lược. Năm Mậu Thìn (1868), Lưu Vĩnh Phúc đánh đuổi Hồ Quân Xương và thủ lĩnh quân Cờ Vàng Hoàng Sùng Anh, xây dựng Lào Cai thành một trung tâm buôn bán sầm uất. Với tước phong “Bảo Thắng phòng ngự sứ” của triều đình nhà Nguyễn Việt Nam, Lưu Vĩnh Phúc đã áp dụng chế độ quản lý cửa khẩu, thúc đẩy trao đổi kinh tế giữa Vân Nam với Lào Cai và vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hàng loạt các biện pháp được thực thi như khai thông luồng lạch, xây dựng bến thuyền, bảo vệ các đoàn thuyền buôn, truy quét trộm cướp... Nhờ vậy lượng hàng hoá qua cửa quan Bảo Thắng tăng nhanh. Thuế quan thu được từ 50.000 quan đến 60.000 quan, tăng gần gấp đôi những năm trước. Hàng xuất khẩu sang Vân Nam chủ yếu là muối, thuốc lá, hàng tiêu dùng và nhập khẩu chủ yếu là chè, kim loại, vũ khí, thuốc phiện... Hàng năm từ Hà Nội đến Lào Cai có khoảng 2.000 thuyền buôn chở hàng từ Lào Cai hàng hoá ngược sông Hồng chở lên Mạn Hảo và ngược sông Nậm Thi chuyển đến phủ Khai Hoá (Vân Nam, Trung Quốc). Thời kỳ này, con đường buôn bán qua sông Hồng ở Lào Cai còn là con đường nhập vũ khí, thuốc nổ cho các đội quân chống Pháp xâm lược.

9-3462.jpg

Ngày 9/6/1885, Hiệp ước Thiên Tân giữa Pháp và Trung Quốc được ký kết có nhiều điều quy định về buôn bán ở biên giới... Tiếp theo, trong 2 năm (1886 - 1887), Pháp ký với nhà Thanh các hiệp ước bổ sung, như “Hiệp ước Thương mại” ký ngày 25/4/1886” và “Hiệp ước bổ sung” ký ngày 26/6/1887. Những hiệp ước này có các điều khoản quy định mở cửa vùng biên giới Vân Nam và đẩy mạnh buôn bán, xuất - nhập cảnh. Năm 1889, Hải quan Mông Tự được thành lập và ngay ở bến cảng đường sông Mạn Hảo (Vân Nam) cũng có một chi nhánh hải quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thông thương. Giao lưu văn hoá và trao đổi kinh tế qua biên giới Việt - Trung phát triển khá mạnh. Tuy trong những năm này, 2 mặt hàng quan trọng là muối và thuốc phiện bị cấm buôn bán với Trung Quốc nhưng hàng hóa buôn bán qua biên giới vẫn tăng mạnh. Hàng hoá từ Lào Cai xuất khẩu đi Vân Nam năm 1889 là 55.965$11 và nhập khẩu là 26.686$. Nhưng chỉ 8 tháng năm 1890, trị giá hàng hoá xuất - nhập khẩu qua cửa khẩu Lào Cai tăng rất mạnh. Từ tháng 1 đến tháng 8/1890, Lào Cai nhập khẩu hàng hoá trị giá 291.534$11 và xuất khẩu trị giá 54.199$ 50. Đặc biệt, hàng quá cảnh qua cửa khẩu Lào Cai tăng mạnh.

11-8640.jpg

Hàng xuất khẩu sang Vân Nam chủ yếu là diêm, rượu gạo, gỗ thơm, sợi bông, bột, dầu lạc, giấy bản, dầu hoả, cá muối, sành sứ, thuốc lá, thuốc lào, vải lụa, quần áo, gia súc. Hàng nhập vào Việt Nam là quế, tinh dầu, củ nâu, thiếc, chè, đường, miến, mật ong, thuốc phiện... đến Mông Tự, nối liền Lào Cai với Mông Tự và Lào Cai với Yên Bái, Hà Nội. Ngày 20/5/1889, Lào Cai đã tiến hành thành công việc hoà mạng điện báo giữa Pháp và Trung Quốc. Hệ thống đường bộ từ Lào Cai đi Phố Lu Bảo Hà - Trái Hút cũng được tu sửa, mở rộng. Tuyến đường sông Hồng tiếp tục được nạo vét, phá bớt ghềnh thác. Ngày 24/7/1889, chuyến tàu Xì lóp (chạy bằng hơi nước) đầu tiên từ Hà Nội đến Lào Cai an toàn, mở ra hướng đầu tư mới và tăng cường các tàu chạy bằng hơi nước trên tuyến sông Hồng.

Trao đổi buôn bán bằng đường sông Hồng giữa Vân Nam và Lào Cai có từ thời cổ đại nhưng chỉ đến thời cận đại, đặc biệt trong khoảng 20 năm (1890 -1910) phát triển mạnh nhất. Tập ký sự “Chuyên khảo Lào Cai” của sỹ quan Pháp viết cuối thế kỷ XIX lưu trữ tại Thư viện Quốc gia có ghi chép nhiều sự kiện về tu sửa, xây dựng bảo vệ con đường huyết mạch thông thương Lào Cai - Vân Nam trên tuyến sông Hồng. Chuyên khảo cũng ghi chép về sự phát triển trong quan hệ buôn bán Vân Nam - Lào Cai qua sự phản ánh của trạm thuế quan Lào Cai: “Trong tháng 2/1890, 200 ngựa thồ rời Phố Lu và 500 ngựa thồ rời Lào Cai để vận chuyển muối đến các vùng nội hạt. Sở Thương chính Lào Cai đã ghi rõ nhập khẩu trong tháng 2 là 350$ xuất khẩu 9.690$, hàng quá cảnh Vân Nam đi Hồng Kông trị giá 19.285$, quá cảnh từ Hồng Kông đi Vân Nam trị giá 77.987$28. Đến năm 1891, buôn bán qua cửa khẩu Lào Cai tăng nhanh, chỉ riêng tháng 1/1891, cửa khẩu Lào Cai xuất khẩu hàng trị giá 11.630$30, hàng quá cảnh từ Hồng Kông đi Vân Nam là 42.830$, nhập khẩu 4354$, quá cảnh Vân Nam đi Hồng Kông với khối lượng hàng hoá trị giá 33.730$. Tháng 1 cũng có 110 thuyền hàng ngược đến Lào Cai và 83 thuyền từ Mạn Hảo qua Lào Cai xuôi về Hà Nội, có 2.095 ngựa thồ muối đến các chợ nội địa. Như vậy, chỉ sau 1 năm, lượng hàng giao dịch qua cửa khẩu Lào Cai đều tăng từ 20% đến 30%. Đầu thập niên 90 của thế kỷ XIX, khi mới mở cửa, thuyền buôn qua lại trên sông Hồng hằng năm trên 1.000 chiếc, vận chuyển khoảng 3.000 tấn hàng hoá. Vào năm Quang Tự 23 nhà Thanh (1897), có 5.553 chuyến thuyền buôn qua lại bến Mạn Hảo, lượng hàng hoá vận chuyển giữa Việt Nam và Trung Quốc qua sông Hồng là 12.922 tấn. Đến năm Quang Tự 33 (1907) có 18.431 chuyến thuyền vận chuyển 57.369 tấn hàng hoá. Như vậy sau 17 năm mở cửa biên giới Vân Nam - Lào Cai, số lượng hàng hoá trao đổi qua lưu vực sông Hồng tăng gấp trên 19 lần. Cơ cấu mặt hàng từ Hồng Kông, Hải Phòng quá cảnh Lào Cai sang Vân Nam chủ yếu là các mặt hàng nhiên liệu, hàng tiêu dùng, hải sản. Đặc biệt, từ khi khởi công xây dựng tuyến đường sắt Điền -Việt, khối lượng rất lớn về vật tư trang thiết bị đều được vận chuyển trên tuyến đường thuỷ bộ dọc sông Hồng đến Mông Tự - Côn Minh. Còn hàng từ Vân Nam quá cảnh Lào Cai về Hà Nội, Hải Phòng đi Hồng Kông chủ yếu là thiếc, chè, lâm thổ sản, trong đó mặt hàng thiếc ở Cá Cựu chiếm hàng đầu.

h-4.jpg

Nhờ mở cửa, trao đổi hàng hoá phát triển, hệ thống giao thông nối liền Côn Minh - Mông Tự - Lào Cai - Hà Nội cũng không ngừng được mở rộng. Tuyến đường cổ Trung - Việt trên sông Hồng hình thành từ cổ đại đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX càng được tu bổ, trở thành tuyến đường huyết mạch, trao đổi hàng hoá rất tấp nập nhộn nhịp. Đội thuyền buôn từ Hà Nội ngược sông Hồng qua Phú Thọ, Yên Bái lên Lào Cai qua Hà Khẩu, cập thương cảng Mạn Hảo. Từ Mạn Hảo, hàng được 5.000 đến 6.000 con ngựa, la thồ đi Mông Tự, Cá Cựu ngược lên Kiến Thuỷ, Thông Hải, Giang Xuyên đến thủ phủ Vân Nam là Côn Minh. Theo thống kê của Hải quan Mông Tự, từ năm Quang Tự thứ 13, mỗi năm có trên 1 vạn lượt ngựa vận chuyển hàng xuất khẩu. Đến năm Quang Tự 32 (1906) có trên 29 vạn lượt ngựa vận chuyển hàng hoá xuất - nhập khẩu. Hàng từ Vân Nam vận chuyển đường bộ đến Mạn Hảo xuôi thuyền về Hà Nội và đến cảng biển Hải Phòng. Từ đây, hàng được vận chuyển đến Hồng Kông và đi các nước công nghiệp châu Âu.

7.jpg

Nhờ mở cửa, trao đổi buôn bán Việt - Trung phát triển đã nhanh chóng hình thành các trung tâm buôn bán sầm uất. Đó là Lào Cai - trung tâm buôn bán phía Tây Bắc của Việt Nam. Lào Cai vào thập niên 60, 70 của thế kỷ XIX đã là một khu phố khá sầm uất nhưng từ khi quy hoạch năm 1904, đô thị Lào Cai được mở rộng gấp 5 lần. Trung tâm đô thị không chỉ bó hẹp trong thành cổ mà còn phát triển mạnh sang hữu ngạn sông Hồng (khu vực Cốc Lếu) và phía Nam (khu vực Phố Mới). Năm 1886, dân số chỉ vài trăm người, năm 1907 tăng lên gần 2.000 người. Đô thị Lào Cai thực sự trở thành một trung tâm kinh tế - văn hoá, chính trị của toàn tỉnh Lào Cai, có hệ thống dịch vụ đáp ứng nhu cầu mở cửa, trao đổi buôn bán với Vân Nam.

Ở Vân Nam, Mạn Hảo và Mông Tự cũng nhanh chóng trở thành một trung tâm buôn bán sầm uất trên đường liên vận Việt - Trung. Do địa hình phức tạp, sông Hồng từ Mạn Hảo ngược lên phía Bắc rất dốc, lắm thác ghềnh, thuyền bè không đi lại buôn bán được. Vì vậy, Mạn Hảo - một tiểu trấn của Trung Quốc, cách Lào Cai gần 100 km trở thành đầu mối giao thông đường thủy trọng yếu. Hàng hóa của Vân Nam đều theo đường bộ đổ về Mạn Hảo. Từ Mạn Hảo, các thuyền chuyên chở sang Lào Cai, đi Hà Nội, Hải Phòng. Năm 1853, bia ký Mạn Hảo có ghi, bến thuyền Mạn Hảo chỉ có 16 hộ gia đình “Thủy Phu” . Nhưng sau khi mở cửa vào thập niên 90 của thế kỷ XIX, người Quảng Đông, Quảng Tây ồ ạt kéo đến xây cửa hàng, lập các đội thuyền buôn, mở xưởng đóng tàu thuyền. Thời kỳ đông nhất, tiểu trấn Mạn Hảo có hơn một vạn người . Ở đây còn có đại diện buôn bán của 5 nước Nhật, Đức, Ý, Pháp, Mỹ. Năm 1889, Hải quan Mông Tự mở một chi nhánh ở Mạn Hảo. Các hiệu buôn, đại diện các công ty cũng “mọc” lên san sát. Mạn Hảo trở thành chốn phồn hoa đô hội. Từ năm Thanh Quang Tự thứ 18 (năm 1892) đến năm Tuyên Thống Nguyên Niên (1909) có hàng vạn thuyền buôn cặp bến Mạn Hảo. Bình quân trong 18 năm (1892 - 1909), mỗi năm có 11.481 thuyền vận chuyển hàng hóa trên bến Mạn Hảo. Hằng ngày có hàng nghìn con ngựa nhận hàng chuyên chở đến Mông Tự, Cá Cựu, Côn Minh. Đặc biệt, trong những năm xây dựng dựng đường sắt Điền - Việt, lượng khí tài, vật tư từ Việt Nam chuyển sang Vân Nam tăng rất nhanh. Do đó, lượng ngựa thồ cũng tăng nhiều. Năm 1905, từ Mạn Hảo có hơn 3 vạn con ngựa chuyên chở khí tài, vật tư đến các tuyến thi công đường sắt.

13.jpg

Từ năm 1889, hải quan Mông tự chính thức mở cửa đến năm 1909 (trước khi thông xe đường sắt Điền - Việt), Mông Tự trở thành trung tâm buôn bán của tỉnh Vân Nam; đồng thời Mông Tự cũng trở thành cánh cửa quan trọng nhất, mở ra ngoại quốc của tỉnh Vân Nam. Từ năm 1889 - 1896, toàn tỉnh Vân Nam mới chỉ có Hải quan Mông Tự, nên tổng ngách ngoại thương mậu dịch theo thống kê của hải quan Mông Tự đều chiếm tỷ lệ 100% toàn tỉnh. Ngày 2/3/1896 Vân Nam thiết lập Trạm Hải quan Tư Mao nhưng nguồn hàng xuất - nhập khẩu qua Mông Tự từ năm 1897 - 1901 vẫn chiếm từ 93,3% - 96,7% tổng mức xuất - nhập khẩu mậu dịch của tỉnh Vân Nam. Từ năm 1902 - 1910, xuất khẩu đi nước ngoài qua đường Mông Tự - Mạn Hảo - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng vẫn chiếm từ 77% - 89,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Vân Nam. Mông Tự còn là nơi tập trung các công ty, hiệu buôn trong nước và nước ngoài, với 20 công ty lớn của nước ngoài, 48 hiệu buôn, trong đó có 8 hiệu buôn lớn nhất, gọi là “Bát Đại hiệu”. Các công ty nước ngoài và hiệu buôn Trung Quốc chuyên kinh doanh xuất - nhập khẩu, hàng tiêu dùng, vận tải, dịch vụ... Còn đường vận chuyển hàng hoá của các công ty, hiệu buôn đối với nước ngoài chủ yếu theo hành lang Mông Tự - Mạn Hảo - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

Như vậy từ năm 1886, sau hiệp định Thiên Tân, trao đổi kinh tế, giao lưu văn hoá Lào Cai - Vân Nam diễn ra mạnh mẽ. Đường thủy sông Hồng trở thành tuyến đường huyết mạch thúc đẩy giao lưu kinh tế văn hóa, hình thành các trung tâm thương mại, các thương cảng sầm uất.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Để sản phẩm OCOP thúc đẩy kinh tế nông thôn

Để sản phẩm OCOP thúc đẩy kinh tế nông thôn

Sau gần 10 năm triển khai Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP), Lào Cai đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, phía sau sự tăng cao về số lượng sản phẩm thì vấn đề đang đặt ra là làm thế nào để sản phẩm OCOP mang lại hiệu quả kinh tế thực thụ và giá trị bền vững cho người nông dân, thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.

Cửa khẩu Kim Thành thông quan thông suốt dịp nghỉ lễ, không để ùn ứ hàng hóa

Cửa khẩu Kim Thành thông quan thông suốt dịp nghỉ lễ, không để ùn ứ hàng hóa

Trong các ngày nghỉ lễ từ 30/4 đến 02/5, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại các cửa khẩu đường bộ phía Bắc diễn ra liên tục, không bị gián đoạn. Tại Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành (Lào Cai), hoạt động thông quan được duy trì ổn định, không phát sinh ách tắc hàng hóa.

Tháo gỡ "điểm nghẽn", quyết tâm cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Tháo gỡ "điểm nghẽn", quyết tâm cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Trong mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội những năm tới, tỉnh Lào Cai xác định phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng hai con số, trong đó công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản tiếp tục giữ vai trò trụ cột. Tuy nhiên, qua rà soát thực tế tại các doanh nghiệp cho thấy, giải phóng mặt bằng đang là "điểm nghẽn" lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ đầu tư và sản xuất.

Thúc đẩy chuyển đổi số, thương mại điện tử xuyên biên giới

Thúc đẩy chuyển đổi số, thương mại điện tử xuyên biên giới

Phát huy lợi thế cửa khẩu quốc tế, tỉnh Lào Cai đang từng bước đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới gắn với logistics hiện đại nhằm mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường Trung Quốc. Hướng đi này không chỉ phù hợp với xu thế chuyển đổi số mà còn góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, tăng hiệu quả xuất - nhập khẩu và tạo động lực tăng trưởng bền vững cho địa phương.

Hành trình làm chủ hợp tác xã

Hành trình làm chủ hợp tác xã

Trên địa bàn tỉnh, nhiều nông dân đã nỗ lực vượt qua khó khăn, trở thành giám đốc hợp tác xã, vừa làm giàu cho gia đình, vừa giúp những nông dân khác vươn lên.

Khí thế thi đua trên các công trình trọng điểm

Khí thế thi đua trên các công trình trọng điểm

Những ngày này, trên khắp các công trình xây dựng trọng điểm của tỉnh, không khí thi công diễn ra sôi động. Từ vùng thấp đến vùng cao, biên giới; từ công trình giao thông đến dự án giáo dục, đâu đâu cũng rộn tiếng máy, tiếng xe, thể hiện tinh thần lao động hăng say, quyết tâm vượt khó, đẩy nhanh tiến độ để sớm đưa công trình vào khai thác, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Giúp người lao động an cư

Giúp người lao động an cư

Cùng với sự phát triển của các khu - cụm công nghiệp, số lượng công nhân, người lao động trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng, kéo theo nhu cầu lớn về nhà ở ổn định. Vì vậy, quan tâm hỗ trợ nhà ở cho công nhân, người lao động đang là yêu cầu cấp thiết, góp phần bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn.

Khơi nguồn nước - gieo niềm hy vọng

Khơi nguồn nước - gieo niềm hy vọng

Những ngày cuối tháng 4, dưới cái nắng hanh hao của vùng cao Lào Cai, các thửa ruộng bậc thang bắt đầu được dẫn nước để chuẩn bị bước vào vụ sản xuất Hè Thu. Với đồng bào các dân tộc nơi đây, sản xuất không chỉ là một khung thời vụ trong năm,  mà còn gắn liền với "cuộc chiến" bảo đảm sinh kế và an ninh lương thực.

Xuyên lễ giữ nhịp thi công, sản xuất

Xuyên lễ giữ nhịp thi công, sản xuất

Kỳ nghỉ lễ 30/4 - 01/5 là dịp để nhiều người nghỉ ngơi, sum họp sau những ngày làm việc miệt mài. Thế nhưng, tại nhiều công trình xây dựng, nhà máy, không khí lao động vẫn diễn ra khẩn trương, sôi động. Hàng trăm công nhân vẫn miệt mài bám công trường, bám dây chuyền sản xuất, nỗ lực giữ nhịp sản xuất, bảo đảm tiến độ công việc, góp phần hoàn thành mục tiêu phát triển của doanh nghiệp và địa phương.

Viết trang sử mới dưới dãy Hoàng Liên

Viết trang sử mới dưới dãy Hoàng Liên

Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc Lào Cai đã đi qua hành trình nhiều gian khó để vươn lên. Từ một tỉnh biên giới với xuất phát điểm thấp, hạ tầng thiếu đồng bộ, Lào Cai hôm nay đang từng bước khẳng định vai trò là “cực tăng trưởng” của vùng trung du và miền núi phía Bắc, viết tiếp “trang sử mới” dưới dãy Hoàng Liên Sơn.

Tập trung nguồn lực xây dựng cửa khẩu thông minh

Tập trung nguồn lực xây dựng cửa khẩu thông minh

Ngày 18/3, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 453/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng cửa khẩu thông minh tại Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm hiện đại hóa hoạt động xuất - nhập khẩu. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, bài toán đặt ra là phải tập trung nguồn lực đồng bộ từ hạ tầng, công nghệ đến con người và cơ chế vận hành.

Số hóa chợ phiên Bắc Hà

Số hóa chợ phiên Bắc Hà

Từ “cầu nối” giao thương truyền thống mang đậm bản sắc vùng cao, chợ văn hóa Bắc Hà đang từng bước “số hóa”, hướng tới mô hình chợ thông minh gắn với thương mại điện tử và du lịch. Dự án “Smart Chợ Bắc Hà” không chỉ kỳ vọng thay đổi cách quản lý, kinh doanh truyền thống mà đang mở ra hướng đi mới cho kinh tế địa phương trong kỷ nguyên số.

Người đưa dâu tằm về Chấn Thịnh

Người đưa dâu tằm về Chấn Thịnh

Sinh ra và lớn lên ở đất trồng dâu, nuôi tằm thuộc xã Trấn Yên, năm 2010, chị Nguyễn Thị Chanh Yên lấy chồng về làm dâu ở thôn Bồ, xã Chấn Thịnh. Tìm kế sinh nhai, chị đã mang nghề trồng dâu, nuôi tằm về quê chồng để phát triển kinh tế gia đình. Nghề mới được đón nhận, Chanh Yên được nhắc đến với vai trò là người đưa nghề dâu tằm về với người dân vùng đất khó.

Tăng ca xuyên lễ, cầu biên giới sông Hồng quyết hợp long tháng 9/2026

Tăng ca xuyên lễ, cầu biên giới sông Hồng quyết hợp long tháng 9/2026

Trong kỳ nghỉ lễ, trên công trường cầu biên giới qua sông Hồng tại xã Bát Xát (tỉnh Lào Cai), hoạt động thi công vẫn diễn ra khẩn trương, liên tục. Hơn 60 công nhân, kỹ sư cùng nhiều thiết bị máy móc được huy động, tổ chức thi công tăng ca nhằm bảo đảm tiến độ các hạng mục chính của dự án.

Nâng cao thu nhập người dân khu vực nông thôn

Nâng cao thu nhập người dân khu vực nông thôn

Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu thu nhập bình quân đạt 51 triệu đồng/người/năm, trong đó khu vực nông thôn đạt 42 triệu đồng. Thực hiện mục tiêu đề ra, các địa phương trong tỉnh đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp triển khai thực hiện.

Đánh thức tiềm năng nuôi thủy sản trên các lòng hồ tại Lào Cai

Đánh thức tiềm năng nuôi thủy sản trên các lòng hồ tại Lào Cai

Việt Nam hiện đang sở hữu "kho tài nguyên xanh" vô cùng quý giá với hệ thống hơn 6.700 hồ chứa thủy lợi. Trong bối cảnh ngành thủy sản đang chuyển dịch mạnh mẽ từ khai thác sang nuôi trồng, hệ thống hồ chứa không chỉ đóng vai trò điều tiết nước mà còn trở thành không gian sinh thái lý tưởng để phát triển sinh kế bền vững. Tại khu vực miền núi phía Bắc, Lào Cai đang nổi lên là điểm sáng trong việc khai thác tiềm năng nuôi thủy sản tạo động lực tăng trưởng mới.

fb yt zl tw