Quay về E-magazine Theo dõi Báo Lào Cai trên Google News
Những chiếc mâm mây và đôi tay tài hoa

Những chiếc mâm mây và đôi tay tài hoa

Đến “xứ mưa” Y Tý (huyện Bát Xát) hỏi thăm nhà ông Ly Giờ Lúy giỏi nghề đan mâm mây, từ người già đến trẻ nhỏ ai cũng biết. Trong câu chuyện với người đường xa, họ còn không quên tấm tắc: Mâm mây của già Lúy đan đẹp lắm. Không chỉ đan cho nhà dùng, già còn làm bán cho bà con và khách du lịch nữa đấy!

Men theo lời giới thiệu, tôi đến thôn Lao Chải, tìm gặp người đàn ông có đôi tay tài hoa.

Tỉ mẩn trên từng ngón tay

Giờ đang là cuối hạ, đầu thu, nhưng đất trời Y Tý đã mang dáng vẻ của buổi cuối thu, đầu đông. Mới 4 giờ chiều mà sương đã rơi đặc quánh bên hiên nhà. Những mái nhà trình tường bàng bạc màu mây khói.

2.jpg

Nhà già Lúy nằm ngay đầu thôn Lao Chải. Trước sân nhà, người đàn ông có nước da ngăm đen, chừng 70 tuổi đang cặm cụi chẻ nan, chuốt nan rồi lại cặm cụi đan, ghép các mảnh tre, sợi mây thành các bộ phận để làm chiếc mâm mây truyền thống của người Hà Nhì. Đôi bàn tay chai sạn vì nương rẫy, vì tuổi tác, nhưng đầy tài hoa lướt nhanh trên các sợi mây, tre để tạo hình, ghép dáng cho mâm.

Thấy có khách đến chơi, già Lúy đon đả mời chào, rồi chạy vội vào trong nhà lấy chiếc mâm mây màu bồ hóng ngả ra giữa sân mời nước. Vừa trao chén trà cổ thụ nóng hổi, già Lúy vừa vui vẻ: Với người Hà Nhì, chiếc mâm mây là vật dụng không thể thiếu trong các dịp lễ trọng, như lễ hội Khô già già, tết Thiếu nhi, tết Nguyên đán, thì phải có chiếc mâm mây để bày lễ vật trong nhà, ngoài công viên (khu sinh hoạt chung ngoài trời của cộng đồng người Hà Nhì, dùng làm nơi cúng bái thần linh) để dâng cúng lễ vật. Hay như mỗi khi có khách đến nhà, mang mâm mây ra mời rượu, mời chè cũng là tỏ lòng thịnh tình, hiếu khách.

Già Lúy còn giới thiệu thêm, làm mâm mây rất kỳ công, để đan một chiếc mâm mây, người thạo nghề như già cũng phải mất 8 - 10 ngày mới hoàn thành trong điều kiện đã đủ các nguyên liệu, còn người mới học nghề phải mất đến cả tháng. Đó là còn chưa kể công đoạn chuẩn bị nguyên liệu phải chuẩn bị trước đó mấy tháng. Do nguyên liệu đều từ tự nhiên, như mây, trúc, tre, giang, nên ngày trước, những người làm mâm phải lên tận rừng xa tìm kiếm, chọn cây già, dẻo, dai chắc nhất trong rừng. Việc khai thác cây cũng phải chọn từ mùa thu trở đi, bởi nếu chọn vào mùa hè, mưa nhiều, cây lúc đó ngậm nước dễ bị mối mọt.

Nguyên liệu thô được mang từ rừng về, người làm mâm sẽ cắt khúc thành những kích thước mong muốn, rồi chẻ, tước, vuốt để có sợi nan tròn, dẹt, dài, ngắn tùy ‎ý sử dụng cho từng bộ phận. Rồi lại trăn trở hong lửa, hong gió qua tháng tháng, ngày ngày để sợi đan được dẻo dai, bền chắc.

3.jpg

Ngồi nghe già Lúy kể chuyện, tôi cũng phần nào hình dung sự kỳ công, tỉ mẩn của người đan mâm và có dịp ngắm kỹ chiếc mâm mây được ví như linh hồn của dân tộc Hà Nhì. Mâm có chân hình trụ với một chiếc mặt mâm cỡ lớn, nhìn nghiêng tựa như chiếc trống đồng. Sự xinh đẹp nằm ở những nốt đan trên các bộ phận đế, thân, vành và mặt mâm.

Đầu tiên, phải đan vành mâm, sau đó là chân mâm và sau cùng là đan mặt mâm. Mỗi bộ phận sẽ dùng những nguyên liệu khác nhau và cách đan cũng khác nhau. Chân mây được đan bằng các nan tre, giang hoặc mai theo kiểu đan hình chữ “x” dọc thân. Vành mâm được đan bằng mây theo kiểu đan nong 2, tạo thành những mảng xoắn bện chắc chắn. Mặt mâm đan ba lớp bằng các nan tre, trúc, mai chẻ bản to, đan chéo 6 nan, sao cho mỗi nốt đan là hình lục giác, nhìn xa như những bông hoa được xếp kề nhau. Đây là công đoạn khó nhất, đòi hỏi người đan phải tỉ mẩn và khéo léo, nếu không cẩn thận thì không thể ghép kín bàn mâm với chân mâm được. Điều này đòi hỏi người đan phải thật khéo tay và có sự tính toán hợp lý thì vòng của chân, thân và mặt mâm mới khớp nhau. Trước khi đan phải chuốt nan trúc và dây mây thật bóng thì chiếc mâm thành phẩm mới đẹp. Sau khi việc đan lát hoàn thành, người ta sẽ treo mâm lên gác bếp, để mâm ngậm bồ hóng, vừa tạo nên màu nâu đẹp, lại giúp mâm bền chắc, không bị mối mọt.

Đau đáu nghề cha ông

Tôi mê mải “sống” trong câu chuyện nghề của người Hà Nhì; đôi tay già Lúy vẫn lướt đều trên những que đan dưới ánh điện loang loáng, giọng âm vang về những ngày xưa cũ, mà không hay trời đã ngả về đêm. Hơi lạnh bắt đầu ngập tràn, già Lúy đưa tôi vào nhà trong. Bếp củi đã được nhen lên tự lúc nào, than hồng rực một góc. Qua ánh lửa, tôi có dịp chiêm ngưỡng “kho báu” của già. Xung quanh bếp là những chiếc mâm có mặt tròn xoe như chiếc trống đồng. Già Lúy tự hào về kho báu này lắm, vừa giới thiệu với tôi, đôi mắt ông vừa ánh lên lấp lánh.

a4.png

Không ai biết chiếc mâm mây và nghề đan mâm mây có từ khi nào, chỉ biết rằng những người đã sống “xưa như Trái Đất” ở “xứ mưa” này như già Lúy cũng từng đặt câu hỏi ấy với ông bà, cha mẹ mình, nhưng đều nhận được cái lắc đầu, ai cũng bảo rằng khi bắt đầu biết cầm dao, những cậu bé Hà Nhì đã được dạy vót nan mây, nan tre và học nghề từ những người đàn ông lớn tuổi trong gia đình. Có lẽ khi người Hà Nhì in dấu chân trên mặt đất, thì nghề đan mâm mây đã xuất hiện và gắn chặt với họ như cuộc sống của họ gắn chặt với rừng xanh.

Tôi tò mò vì việc đan mâm mây chỉ có đàn ông đảm nhiệm, liệu có điều kiêng gì không, hay phụ nữ không khéo tay, cần mẫn bằng cánh mày râu? Già Lúy bảo, phụ nữ Hà Nhì cũng khéo tay lắm, nhưng họ cũng đã đủ bận với các việc gia đình, đồng áng rồi, nên những người đàn ông thường đảm nhiệm việc này.

Thời già Lúy, đàn ông ai cũng biết đan mâm mây. Những lúc nông nhàn, vào mùa khô, làng trên xóm dưới rủ nhau đi rừng lấy cây mây, cây tre để làm nguyên liệu vui như trảy hội. Ai cũng mong có chiếc mâm truyền thống bền đẹp nhất để dùng trong gia đình và còn làm quà để tặng cho những người thân quen. Vậy nhưng, xã hội ngày càng hiện đại, khi cuộc sống con người hối hả với nhiều mối bận tâm, trong khi đan mâm mây tiêu tốn nhiều thời gian, đòi hỏi sự cần mẫn, thì nhiều người già dần quên nghề cũ, còn người trẻ cũng không mặn mà học nghề xưa.

Cùng với đó, đồ dùng công nghiệp chiếm ưu thế, những chiếc mâm mây được biến tấu làm bằng nhôm vừa nhẹ, vừa dễ cọ rửa, giá thành lại rẻ. Trong khi giá mâm nhôm chỉ vài trăm nghìn, thì mâm đan mây thủ công có giá từ 1,5 đến 2,5 triệu đồng tùy kích cỡ.

a5.png

Già Lúy nhìn sâu vào bếp lửa, giọng chầm chậm: “Bây giờ đã không còn nhiều người đan mâm mây, cả Y T‎ý người đan mâm mây hiện chỉ đếm trên đầu ngón tay, như ông Ly Hờ Suy, Chu Thó Se, Phu Giờ Lù, Sò Giờ Vù, Ly Ché Đo. Thanh niên bây giờ cũng có ít người theo học đan lát, có người học biết đan rồi nhưng không thực hành nên dần quên hết. Lớp người chúng tôi mà về với tổ tiên thì có lẽ nghề đan mâm sẽ không còn ai biết đến. Người Hà Nhì mà không dùng chiếc mâm của mình thì còn đâu là người Hà Nhì nữa”. Nói rồi già Lúy thở dài. Tiếng thở như của ngàn xưa vọng lại khiến người nghe cũng thấy có phần nuối tiếc.

Đem trăn trở của già Lúy trao đổi với ông Phạm Văn Tâm, Trưởng Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Bát Xát, chúng tôi được biết trong định hướng bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa cổ, nghề đan mâm mây của dân tộc Hà Nhì được đưa vào các chương trình, dự án nhằm tạo sinh kế cho người dân, đặc biệt gắn việc phát triển các nghề với phát triển du lịch cộng đồng. Như ở xã Y Tý gắn với định hướng phát triển du lịch, các bản người Hà Nhì cổ như Lao Chải, Choản Thèn sẽ được tập trung bảo tồn, phát huy nghề truyền thống, bằng cách trình diễn, truyền dạy, tạo hướng phát triển thu nhập, để giữ mãi những nghề xưa.

Khép lại câu chuyện về nghề cổ, đôi bàn tay chai sạn vì nương rẫy, vì tuổi tác nhưng đầy tài hoa làm nên những chiếc mâm mây với họa tiết, hoa văn đẹp mắt của già Lúy như sợi chỉ buộc nối quá khứ, hiện tại và tương lai cứ trở đi, trở lại trong tôi. Mong rằng sẽ có thêm nhiều sợi chỉ mới, nhiều sắc màu mới lưu giữ nghề xưa, thổi hồn vào văn hóa bản địa, vào sản phẩm thủ công truyền thống.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bánh Sú chiên - Hương vị chợ phiên Bắc Hà

Bánh Sú chiên - Hương vị chợ phiên Bắc Hà

Có dịp đi qua khu ẩm thực ở chợ Bắc Hà, du khách thường bị thu hút bởi mùi thơm lan tỏa trong không gian, vô cùng kích thích vị giác. Đó là hương thơm từ chảo bánh Sú chiên vàng ruộm, nóng hổi - món quà mộc mạc đã gắn bó với đời sống của người Tày, người Nùng qua bao thế hệ.

Giữ hồn Then, ngân điệu Tính nơi vùng đất Ngọc

Giữ hồn Then, ngân điệu Tính nơi vùng đất Ngọc

Ở vùng đất Ngọc, những câu hát Then, tiếng đàn Tính của đồng bào dân tộc Tày vẫn ngân vang giữa nhịp sống mới. Qua nhiều thế hệ, những giá trị văn hóa đặc sắc ấy được gìn giữ, trao truyền, để không chỉ còn trong ký ức mà tiếp tục hiện diện sinh động trong đời sống cộng đồng hôm nay.

Yên Thành giữ gìn bản sắc văn hóa từ trường học

Yên Thành giữ gìn bản sắc văn hóa từ trường học

Thời gian qua, xã Yên Thành luôn chú trọng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc. Trong đó, các trường học trên địa bàn đã tạo dựng môi trường giáo dục gắn với hoạt động thiết thực để học sinh được tiếp cận, trải nghiệm và góp phần giữ gìn nét văn hóa của cha ông.

Lào Cai sẽ tổ chức tọa đàm về vai trò của văn nghệ sĩ trong bảo tồn văn hóa vào tháng 11/2026

Lào Cai sẽ tổ chức tọa đàm về vai trò của văn nghệ sĩ trong bảo tồn văn hóa vào tháng 11/2026

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và chào mừng “Ngày Văn hóa Việt Nam” 24/11, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy sẽ tổ chức Tọa đàm khoa học “Văn nghệ sĩ và những đóng góp trong bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa, con người Lào Cai” vào tháng 11/2026.

[Ảnh] Sợi chỉ nuôi ước mơ khởi nghiệp

[Ảnh] Sợi chỉ nuôi ước mơ khởi nghiệp

Từ những đường kim, mũi chỉ gắn liền với bản sắc văn hóa của dân tộc Mông Hoa, Ly Thị Rua và Sùng Thị Xoa đang từng bước đưa thổ cẩm Bản Phố (xã Bắc Hà) trở thành sản phẩm hàng hóa gắn với du lịch trải nghiệm.

Vẽ sáp ong, nhuộm chàm giữa sắc vàng Tả Van

Vẽ sáp ong, nhuộm chàm giữa sắc vàng Tả Van

Đưa nghề thủ công truyền thống vào các sản phẩm trải nghiệm đang tạo thêm sức hút cho du lịch cộng đồng tại Tả Van (Lào Cai). Từ các buổi vẽ sáp ong, nhuộm chàm, du khách trực tiếp khám phá văn hóa địa phương và đời sống cộng đồng qua những thao tác thực hành gần gũi.

Từ rừng xuống bãi tập

Từ rừng xuống bãi tập

Giữa sân tập ở Phong Dụ Hạ, tiếng dây nỏ bật lên gọn, đanh; những mũi tên nối nhau tìm đến hồng tâm. Với các thành viên Câu lạc bộ (CLB) bắn nỏ truyền thống xã Phong Dụ Hạ, mỗi lần giương nỏ là một lần rèn sức, luyện mắt và giữ vững tâm thế. Từ những buổi tập đều đặn, môn thể thao truyền thống đang được gìn giữ, trao truyền và tiếp tục hiện diện trong đời sống cộng đồng.

Mạch sống bất tận dưới núi Hoàng Liên

Mạch sống bất tận dưới núi Hoàng Liên

Dưới chân dãy Hoàng Liên, có một vùng đất đã đi qua nhiều biến động, nhưng qua bao thời gian rừng vẫn xanh ngát, ruộng bậc thang vẫn tươi sắc vàng mỗi mùa gặt và nét văn hóa của người Dao đỏ vẫn lặng lẽ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là Nậm Cang, xã Mường Bo.

Chuyện kể bên mâm cơm của người Dao Việt Hồng

Chuyện kể bên mâm cơm của người Dao Việt Hồng

Con đường về thôn Việt Cường 6, xã Việt Hồng uốn lượn giữa những triền núi xanh. Trong làn sương bảng lảng buổi sớm, khói bếp từ những nếp nhà người Dao quần chẹt bay lên quyện với mùi lá rừng và hương vị thức ăn. Ở nơi ấy, một mâm cơm không chỉ để thưởng thức mà còn là cách người Dao kể câu chuyện về quê hương, núi rừng và những điều cha ông truyền lại.

Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lào Cai giám sát thực hiện Dự án 6 tại phường Nghĩa Lộ

Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lào Cai giám sát thực hiện Dự án 6 tại phường Nghĩa Lộ

Chiều 28/9, tại phường Nghĩ Lộ, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lào Cai tiến hành giám sát việc thực hiện Dự án 6 về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giai đoạn 2025 – 2026.

Mường Lò: Tiếng khung cửi còn vang trong bản?

Mường Lò: Tiếng khung cửi còn vang trong bản?

Chiều buông trên thung lũng Mường Lò, tiếng thoi đưa lách cách vẫn vang trong những nếp nhà sàn của người Thái. Qua bao thế hệ, nghề dệt thổ cẩm truyền thống không chỉ lưu giữ ký ức văn hóa mà đang được người dân đưa vào thị trường, gắn với du lịch để tạo sinh kế và giữ nghề.

Có hẹn với mùa cốm nơi vùng cao Hợp Thành

Có hẹn với mùa cốm nơi vùng cao Hợp Thành

Từ ngày 17 - 18/10, Lễ hội Cốm Hợp Thành năm 2026 sẽ đưa du khách đến với hương cốm mới, nghi lễ “Đón hồn Mẹ Lúa”, những bản làng vùng cao cùng nhiều trải nghiệm văn hóa, ẩm thực đặc sắc giữa mùa lúa chín ở Lào Cai.

fb yt zl tw