Tại thôn Minh Tân, xã Quy Mông, câu chuyện khởi nghiệp của chị Nguyễn Thị Mến - Giám đốc Hợp tác xã rau an toàn Minh Tiến là minh chứng rõ ràng cho sự thay đổi tư duy của phụ nữ trong phát triển kinh tế.
Từ sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, năm 2019, chị Mến mạnh dạn đứng ra thành lập hợp tác xã với 7 thành viên ban đầu. Đến nay, hợp tác xã đã có 13 thành viên chính thức, liên kết với hơn 20 hộ dân cùng sản xuất rau an toàn theo hướng hàng hóa.
Không dừng lại ở đó, chị tiếp tục đầu tư gần 400 triệu đồng để cải tạo, nâng cấp hệ thống nhà lưới với diện tích 2.200 m², đáp ứng yêu cầu sản xuất an toàn, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.
Sau khi trừ chi phí, mô hình mang lại nguồn thu khoảng 300 triệu đồng mỗi năm, tạo sinh kế ổn định cho gia đình và nhiều lao động nữ tại địa phương.
Trước đây, tôi cũng như nhiều chị em khác, chỉ quen làm theo kinh nghiệm, sản xuất nhỏ lẻ nên hiệu quả không cao. Khi tham gia các lớp tập huấn, được hội phụ nữ và các tổ truyền thông của Dự án 8 tuyên truyền, hướng dẫn, tôi nhận ra rằng muốn phát triển kinh tế bền vững thì phải thay đổi tư duy, liên kết sản xuất và chú trọng chất lượng sản phẩm.
Từ làm nông nghiệp thuần túy, chị Mến đã trở thành “đầu tàu” liên kết sản xuất, tiêu thụ, góp phần thay đổi cách nghĩ, cách làm của nhiều chị em trong vùng. Đằng sau sự thành công ấy không chỉ là nỗ lực cá nhân, mà còn là sự đồng hành của các tổ truyền thông, chi hội phụ nữ - những “cánh tay nối dài” của Dự án 8 trong việc truyền thông, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới gắn với phát triển kinh tế.
Sự chuyển biến về tư duy phát triển kinh tế của phụ nữ cũng được thể hiện rõ tại nhiều địa phương khác.
Ở thôn Làng Câu, xã Tân Hợp, nơi trước đây phụ nữ dân tộc thiểu số chủ yếu quen với tập quán sản xuất lạc hậu, thu nhập bấp bênh, thì nay nhiều chị em đã trở thành những điển hình kinh tế.
Nhờ được tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ vay vốn, tiếp cận các mô hình sinh kế mới, phụ nữ Làng Câu dần tự tin hơn trong quyết định đầu tư, sản xuất.
Điển hình là chị Trần Thị Thắng, người phụ nữ dám nghĩ, dám làm trong phát triển kinh tế rừng và chăn nuôi tổng hợp.
Từ 4 ha quế trồng năm 1995, đến nay, gia đình chị đã phát triển hơn 20 ha, trong đó trên 10 ha đang cho khai thác. Song song với đó là mô hình chăn nuôi trâu, bò, dúi, dê, cá mang lại tổng thu nhập trên 1 tỷ đồng mỗi năm.
Điều chị Thắng nhấn mạnh không chỉ là hiệu quả kinh tế, mà còn là sự tự tin có được nhờ sự động viên, hướng dẫn kịp thời từ các tổ truyền thông và hội phụ nữ ở cơ sở
Chị Trần Thị Thắng chia sẻ: “Nhờ sự động viên, hướng dẫn của tổ truyền thông và hội phụ nữ, tôi đã mạnh dạn đưa giống mới vào sản xuất, thay đổi cách làm trước đây. Khi mình dám nghĩ, dám làm và có người đồng hành, thì phát triển kinh tế không còn quá khó”.
Những câu chuyện trên cho thấy, bình đẳng giới trong phát triển kinh tế không chỉ là mở rộng cơ hội, mà còn là quá trình trao quyền, tạo động lực để phụ nữ tự tin khẳng định vị thế của mình.
Thực hiện mục tiêu đó, thời gian qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Lào Cai đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, trọng tâm là hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế theo chuỗi giá trị, gắn với Đề án 939 của Chính phủ về hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017 - 2025. Các hoạt động tập trung vào nâng cao năng lực quản lý, khởi sự kinh doanh, tham gia kinh tế hợp tác, tiếp cận thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Giai đoạn 2021 - 2025, các cấp hội đã hỗ trợ gần 1.600 mô hình sinh kế với tổng giá trị 12 tỷ đồng; nâng cao năng lực cho 960 phụ nữ làm chủ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; nguồn vốn ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội tăng 61%, qua đó giúp trên 5.000 hộ hội viên phụ nữ nghèo, cận nghèo có điều kiện phát triển kinh tế bền vững. Phong trào phụ nữ khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh ngày càng lan tỏa, với 839 doanh nghiệp và 194 hợp tác xã do phụ nữ làm chủ, tạo việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động nữ.
Những định hướng, giải pháp mà Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Lào Cai đang triển khai không chỉ dừng lại ở kế hoạch, mục tiêu trên giấy, mà đã và đang được kiểm chứng bằng những chuyển biến cụ thể trong đời sống kinh tế - xã hội. Thực tiễn cho thấy, vai trò của phụ nữ trong lao động, sản xuất ngày càng được khẳng định rõ nét, cả về số lượng lẫn chất lượng.
Tỷ lệ phụ nữ tham gia lao động trong nền kinh tế của tỉnh không ngừng gia tăng; bình quân hằng năm có trên 65% lao động nữ được đào tạo nghề, gần 43% được tạo việc làm. Những con số này phản ánh hiệu quả của các chính sách bình đẳng giới và cho thấy, khi phụ nữ được trao cơ hội, được hỗ trợ đúng hướng, họ không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà đã thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển.
Có thể khẳng định, Dự án 8 không chỉ mang lại sự hỗ trợ về nguồn lực, mà quan trọng hơn là tạo ra sự thay đổi căn bản về tư duy. Từ chỗ e dè, phụ thuộc, nhiều phụ nữ đã mạnh dạn tính toán đầu tư, chủ động tìm kiếm cơ hội, liên kết sản xuất, từng bước làm chủ kinh tế gia đình và đóng góp cho cộng đồng. Đó chính là nền tảng để bình đẳng giới đi vào chiều sâu, trở thành động lực thúc đẩy phát triển bền vững từ cơ sở, nơi phụ nữ không còn đứng bên lề, mà đang khẳng định vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế địa phương.