Quay về E-magazine Theo dõi Báo Lào Cai trên Google News
Bảo Yên nỗ lực duy trì và phát triển vùng chè hàng hóa

Bảo Yên nỗ lực duy trì và phát triển vùng chè hàng hóa

Diện tích chè hàng hóa của huyện Bảo Yên đã giảm hơn một nửa so với năm 2020. Trên cơ sở phân tích nguyên nhân, địa phương đang có nhiều giải pháp để khôi phục vùng chè hàng hóa.

Thu hái xong lứa chè cuối năm 2024, gia đình anh Triệu Xuân Ánh (xã Xuân Hòa) chuyển sang chăm sóc cây mắc ca trồng xen trong nương chè. Cuối năm trước, khi dự án trồng cây mắc ca xen chè được triển khai tại địa phương, anh Ánh được hướng dẫn trồng cây đúng mật độ để sau này mắc ca vừa che bóng, vừa cho thu hoạch quả nhưng vẫn đảm bảo chè được hái búp hằng năm.

1.jpg
Chè là cây trồng lâu năm mang lại hiệu quả kinh tế khá ổn định.

Anh Triệu Xuân Ánh chia sẻ: Gần chục năm gắn bó với cây chè, tôi nhận thấy tuy không mang về nguồn thu lớn trong một thời điểm nhưng chè là cây lấy ngắn nuôi dài, là cây giảm nghèo cho nông dân, tạo thu nhập để phục vụ chi tiêu hằng ngày. Vì vậy, dù nhiều hộ trong xã đã dần thay thế cây chè bằng cây quế nhưng gia đình tôi vẫn quyết giữ lại nương chè.

Theo đánh giá của UBND xã Xuân Hòa, từ năm 2018 trở về trước, cây chè là cây chủ lực đem lại thu nhập ổn định cho người dân nhưng vài năm gần đây, diện tích chè của xã đã giảm mạnh từ 330 ha xuống 106 ha. Đó là chưa tính diện tích chè đã được người dân trồng xen cây quế với mật độ dày để sau này quế lớn lên sẽ phá bỏ chè.

Ông Hoàng Văn Nhâm, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Hòa cho biết: Để duy trì và phát triển vùng chè, UBND xã đã chỉ đạo các thôn tuyên truyền, vận động người dân không chặt bỏ cây chè để trồng sắn, quế. Đồng thời, vận động các hộ trồng xen quế vượt quá mật độ quy định cây che bóng trong nương chè thực hiện việc di dời quế ra khỏi nương chè.

3-4557.jpg
Huyện Bảo Yên chỉ đạo các xã, thị trấn tích cực tuyên truyền, vận động người dân tập trung chăm sóc nhằm nâng cao năng suất, chất lượng chè búp tươi.

Theo số liệu của huyện Bảo Yên, năm 2020, tổng diện tích chè của huyện đạt 756 ha, sản lượng đạt 3.860 tấn. Giai đoạn 2019 - 2022, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, việc xuất khẩu chè gặp nhiều khó khăn, giá thu mua giảm, người trồng chè bị giảm thu nhập đáng kể dẫn đến tình trạng nhiều hộ chặt bỏ hoặc trồng xen cây quế vào diện tích chè. Hiện, diện tích chè toàn huyện là 283,6 ha (giảm 472,4 ha so với năm 2020, trong đó giảm 13,4 ha do ảnh hưởng hoàn lưu bão số 3).

Trên thực tế, chè vẫn là cây trồng lâu năm mang lại hiệu quả kinh tế khá ổn định. Đây được gọi là cây xóa đói, giảm nghèo, là cây trồng cho người nghèo, do vậy huyện Bảo Yên vẫn định hướng duy trì và khôi phục vùng chè tập trung. Thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TU ngày 26/8/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, huyện Bảo Yên phấn đấu đến năm 2025 phát triển vùng nguyên liệu chè hơn 800 ha, đồng thời cải tạo, thâm canh để nâng cao năng suất, chất lượng chè; phấn đấu năng suất chè bình quân đạt 86,37 tạ/ha, giúp nâng cao thu nhập cho người trồng chè.

Theo đó, huyện Bảo Yên chỉ đạo các hộ loại bỏ các cây trồng xen ra khỏi nương chè, đảm bảo mật độ cây che bóng phù hợp, đồng thời vận động, tuyên truyền người dân trồng lại các diện tích chè đã tự ý chặt bỏ. Tập trung nâng cao năng suất, chất lượng chè ổn định; hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng kế hoạch phát triển và ổn định thị trường tiêu thụ, tăng hình thức chế biến sản phẩm chè chất lượng cao, có giá trị, tạo thương hiệu mạnh trên thị trường (chè xanh duỗi, chè Ô long, hồng trà, bạch trà, trà matcha, trà túi lọc...).

Ông Nguyễn Văn Nhất, Phó Chủ tịch UBND huyện Bảo Yên cho biết: Để duy trì và phát triển cây chè bền vững, huyện triển khai đồng bộ các giải pháp, trong đó thực hiện quy trình thiết kế nương đồi, trồng cây che bóng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật có hiệu quả trong thâm canh nâng cao chất lượng vùng chè. Tổ chức tập huấn, tuyên truyền cho người dân về lợi ích bền vững, lâu dài của việc trồng, thâm canh chè; các kỹ thuật từ khâu làm đất, trồng chè, chăm sóc chè theo hướng hữu cơ.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu giống chè, cải tạo, thay thế giống chè năng suất thấp bằng những giống mới có năng suất, chất lượng cao (Kim Tuyên, Tứ Quý...). Thực hiện cải tạo, trồng dặm bổ sung mật độ chè mất khoảng; tiếp tục mở rộng đối với nơi có điều kiện; áp dụng VietGAP cho diện tích chè kinh doanh. Xây dựng và nhân rộng các mô hình điểm về thâm canh, tăng năng suất đối với cây chè, duy trì 100% diện tích chè kinh doanh đã được cấp chứng nhận VietGAP, định hướng trồng mới chè theo hướng hữu cơ, đồng thời khuyến khích áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả lao động và giá trị sản xuất...

2-798.jpg
Thời gian tới huyện Bảo Yên sẽ thu hút đầu tư, đẩy mạnh chế biến, chế biến sâu, đa dạng sản phẩm chè đáp ứng yêu cầu thị trường, giúp phát triển bền vững cây chè.

Thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp chế biến chè với nông dân từ xây dựng vùng nguyên liệu đến bao tiêu sản phẩm. Đẩy mạnh chế biến, chế biến sâu, đa dạng sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường, tạo ra các sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Kết thúc vụ sản xuất năm 2024, nông dân Bảo Yên thu hoạch được 1.800 tấn chè búp tươi, với giá bán từ 6.000 - 10.000 đồng/kg, mang về nguồn thu hơn 30 tỷ đồng. Đây là thông tin tích cực để người dân yên tâm gắn bó với cây chè - một trong những cây trồng được xác định là chủ lực của địa phương.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Tìm hiểu cơ hội hợp tác tại Nhà máy sản xuất và chế biến quế hữu cơ Bảo Thắng

Tìm hiểu cơ hội hợp tác tại Nhà máy sản xuất và chế biến quế hữu cơ Bảo Thắng

Sáng 5/11, Đoàn công tác của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai cùng đại diện ngành nông nghiệp các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Tuyên Quang, Quảng Ninh và một số doanh nghiệp, hợp tác xã đã tham quan, tìm hiểu hoạt động của Nhà máy sản xuất và chế biến quế hữu cơ Bảo Thắng, xã Xuân Quang.

Đoàn kết xây dựng quê hương

Đoàn kết xây dựng quê hương

Phát huy vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Phúc Lợi đã có nhiều cách làm linh hoạt trong tuyên truyền, vận động và kết nối nguồn lực. Qua đó, khơi dậy sức dân, huy động sự chung tay của cộng đồng xây dựng nông thôn mới.

Nhân rộng tổ hợp tác, tạo "sức bật" cho kinh tế vùng cao

Nhân rộng tổ hợp tác, tạo "sức bật" cho kinh tế vùng cao

Chú trọng vận động người dân tham gia các mô hình kinh tế tập thể, đặc biệt là tổ hợp tác, xã Mỏ Vàng đã và đang khơi dậy các ngành nghề thế mạnh từ sản xuất quế, nuôi cá nước ngọt đến dịch vụ chăm sóc sắc đẹp. Những mô hình liên kết này không chỉ giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập cho hội viên phụ nữ và người dân, mà còn trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển bền vững.

Gia Hội giảm nghèo từ liên kết sản xuất

Gia Hội giảm nghèo từ liên kết sản xuất

Cùng với việc triển khai các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Gia Hội đã phát huy vai trò của cán bộ cơ sở, người có uy tín trong vận động người dân đổi mới sản xuất. Từ liên kết trồng, sơ chế, tiêu thụ măng tre ở thôn Tộc Cài đến chuyển đổi giống chè, phối hợp thu hoạch tại thôn Nậm Búng, những cách làm phù hợp đang góp phần nâng cao thu nhập, giúp bà con vươn lên, cải thiện đời sống.

Đưa hương quế bay xa

Đưa hương quế bay xa

Vùng đất Vĩnh Yên, xã Nghĩa Đô, cây quế giúp nhiều hộ dân có cuộc sống ấm no. Người tiên phong trong mô hình trồng quế và sản xuất tinh dầu quế là chị Lò Thị Liên, dân tộc Tày, Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp và Dịch vụ Vĩnh Yên. Không chỉ nâng cao thu nhập cho gia đình, mô hình của chị Liên góp phần tạo việc làm quanh năm cho lao động ở Nghĩa Đô, phát triển chuỗi giá trị quế và đưa nông sản địa phương tiếp cận thị trường lớn.

Lào Cai: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng 4 trường nội trú vùng biên

Lào Cai: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng 4 trường nội trú vùng biên

Tại các xã Bản Lầu, Si Ma Cai, Trịnh Tường và Bản Vược, tỉnh Lào Cai, các nhà thầu đang tập trung nhân lực, máy móc, triển khai đồng thời nhiều hạng mục xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp thuộc giai đoạn 2. Trước những khó khăn về địa hình, vận chuyển, nguồn cung vật liệu và giải phóng mặt bằng, chủ đầu tư cùng các đơn vị thi công đang phối hợp tháo gỡ, phấn đấu hoàn thành, đưa 4 trường vào sử dụng từ ngày 30/8/2027.

Lào Cai phấn đấu hình thành từ 5 - 7 không gian kinh tế ban đêm giai đoạn 2026 - 2030

Lào Cai phấn đấu hình thành từ 5 - 7 không gian kinh tế ban đêm giai đoạn 2026 - 2030

UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 4127/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển kinh tế ban đêm tỉnh Lào Cai giai đoạn 2026 - 2030, nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế về du lịch, thương mại, dịch vụ và bản sắc văn hóa các dân tộc; hình thành các sản phẩm du lịch đêm đặc trưng, góp phần kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng mức chi tiêu của du khách và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

fb yt zl tw