Chỉ sau hơn 3 tháng Nghị quyết 21 có hiệu lực, chính sách đã nhận được sự hưởng ứng từ các địa phương.
Đến giữa tháng 4/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tổng hợp nhu cầu đăng ký của 26 xã, phường; ban hành 3 tờ trình đề nghị phê duyệt, phân bổ kinh phí hỗ trợ năm 2026 gửi Sở Tài chính thẩm định, trình UBND tỉnh quyết định. Tổng kinh phí đề nghị hỗ trợ gần 45 tỷ đồng.
Trong đợt triển khai đầu năm 2026, xã Chấn Thịnh đã hoàn thiện hồ sơ với số tiền đề nghị hỗ trợ trên 2,4 tỷ đồng.
Chính sách đang tạo thêm động lực để xã phát triển các vùng sản xuất hiện có với trên 426 ha cam, 79 ha dâu tằm và 69 ha tre măng Bát độ.
Ông Đặng Văn Vương, thôn Đồng Kéo cho biết: Có chính sách của tỉnh, người dân yên tâm đầu tư hơn. Chúng tôi mong tiếp tục được hỗ trợ về kỹ thuật và kết nối thị trường để sản xuất ổn định, lâu dài.
Có những kết quả trên, xã Chấn Thịnh đã rà soát quỹ đất, đánh giá điều kiện từng vùng để lựa chọn cây trồng, vật nuôi chủ lực, đồng thời hướng dẫn người dân hoàn thiện hồ sơ, tập huấn kỹ thuật và xây dựng mô hình làm điểm.
Ông Đặng Đức Hạnh - Phó Chủ tịch UBND xã Chấn Thịnh cho biết: Nghị quyết 21 là cơ sở để Chấn Thịnh đặt mục tiêu đến năm 2030, hình thành vùng sản xuất hàng hóa với 600 ha cam, quýt; 250 ha dâu tằm và 230 ha tre măng Bát độ.
Còn tại xã Thượng Bằng La, trong đợt 1 năm 2026, xã đã thẩm định 11 mô hình, gồm 7 cơ sở chăn nuôi lợn nái với quy mô 105 con và 4 cơ sở nuôi lợn thịt với quy mô 400 con. Tổng nhu cầu vốn thực hiện trên 7,1 tỷ đồng, trong đó ngân sách đề nghị hỗ trợ trên 600 triệu đồng, còn vốn đối ứng của các hộ lên tới 6,5 tỷ đồng.
Được tiếp cận chính sách hỗ trợ đầu tư nuôi lợn nái sinh sản, ông Nguyễn Quang Kiên ở thôn Trần Phú cho rằng, nguồn hỗ trợ giúp gia đình giảm bớt chi phí đầu tư ban đầu, tạo thêm niềm tin để đầu tư phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa.
Đánh giá hiệu quả của Nghị quyết 21 tại địa phương, ông Vũ Hùng Lương - Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Thượng Bằng La cho biết: Chính sách hỗ trợ đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; khuyến khích người dân áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và chăn nuôi an toàn sinh học. Với thu nhập đạt từ 155 - 304 triệu đồng/năm/hộ, góp phần tạo việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại địa phương.
Từ những mô hình đang triển khai tại Chấn Thịnh, Thượng Bằng La cùng nhiều địa phương khác trong tỉnh như Xuân Ái, Lâm Giang, Thác Bà…, Nghị quyết 21 đã nhanh chóng được các địa phương cụ thể hóa thành những phương án, mô hình sản xuất, từ đó, tạo ra "cú huých" quan trọng, củng cố niềm tin để người dân mạnh dạn đầu tư.
Từ chính sách chung của tỉnh, mỗi địa phương bắt đầu tìm lời giải từ chính những lợi thế về đất đai, khí hậu và tập quán sản xuất của mình.
Những kết quả đạt được là đáng mừng, tuy nhiên, từ những mô hình bước đầu đến hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung vẫn còn khoảng cách lớn.
Thực tế cho thấy, quy mô đầu tư cho sản xuất hàng hóa ngày càng lớn, trong khi không phải hộ dân nào cũng đủ khả năng bố trí vốn đối ứng.
Bên cạnh đó, tâm lý e ngại rủi ro do dịch bệnh, biến động thị trường, giá vật tư và đầu ra sản phẩm cũng khiến số ít người dân dè dặt khi mở rộng sản xuất...
Do đó, muốn các mô hình phát triển thành vùng hàng hóa có sức cạnh tranh, cùng hỗ trợ vốn, người dân cần được đồng hành từ khâu tổ chức sản xuất, chuyển giao kỹ thuật, phòng, chống dịch bệnh đến bảo quản, chế biến, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường.
Đây là yêu cầu đặt ra đối với cấp ủy, chính quyền địa phương trong quá trình đưa nghị quyết vào cuộc sống. Chính quyền cần tổ chức thực hiện chính sách phù hợp với điều kiện thực tế.
Cụ thể là rà soát quỹ đất, lựa chọn đúng cây trồng, vật nuôi chủ lực; tổ chức vùng sản xuất phù hợp; hướng dẫn kỹ thuật và kết nối người dân với hợp tác xã, doanh nghiệp tìm đầu ra cho sản phẩm... Đây là những khâu quan trọng để chính sách phát huy hiệu quả.
Để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, việc hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung vẫn còn nhiều việc phải làm.
Tuy nhiên, với sự chủ động của cấp ủy, chính quyền, sự đồng hành của doanh nghiệp, hợp tác xã cùng sự tham gia tích cực của người dân, Nghị quyết 21 sẽ nhanh chóng vào cuộc sống.
Những lợi thế về đất đai, khí hậu và hệ sinh thái của Lào Cai sẽ được khai thác hiệu quả hơn, trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển, tạo sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân, làm thay đổi diện mạo mỗi vùng quê tại Lào Cai.