Hiện nay, toàn tỉnh có 15.475 ha chè, trong đó gần 13.300 ha đang cho thu hoạch, sản lượng chế biến đạt khoảng 28.000 tấn chè khô mỗi năm. Đây là ngành hàng quan trọng, gắn với sinh kế của hàng chục nghìn hộ dân, đặc biệt tại các địa bàn vùng cao, như Bản Lầu, Mường Khương, Cao Sơn, Pha Long, Liên Sơn, Văn Chấn...
Tuy nhiên, điểm yếu cố hữu của ngành chè hiện nay là phụ thuộc lớn vào thị trường xuất khẩu truyền thống. Cụ thể, trên 80% sản lượng chè xuất khẩu tập trung vào các thị trường Trung Đông như Pakistan, Afghanistan. Khi xung đột tại khu vực này leo thang, chuỗi vận chuyển bị gián đoạn, chi phí logistics tăng gấp 5 - 6 lần, hoạt động xuất khẩu lập tức bị ảnh hưởng nặng nề.
Giá chè búp tươi vì thế giảm còn khoảng 6.000 - 7.000 đồng/kg, thấp hơn từ 1.000 - 1.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Không chỉ giảm giá, nhiều doanh nghiệp cũng phải thu hẹp quy mô thu mua do khó khăn trong tiêu thụ.
Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy rõ tác động này. Trước thời điểm giữa tháng 3, khi các nhà máy chưa hoạt động trở lại, chè búp tươi chỉ được thu mua khoảng 4.000 đồng/kg. Khi bước vào chính vụ, giá có tăng nhưng vẫn ở mức thấp, chưa đáp ứng kỳ vọng của người trồng chè.
Tại thôn Tảo Giàng, xã Bản Lầu, gia đình chị Lưu Thị Hằng có gần 2 ha chè. Những năm trước, vào vụ xuân, mỗi ngày chị thu hái 2 - 3 tạ chè búp, tiêu thụ thuận lợi. Nhưng năm nay, việc tiêu thụ chậm khiến giá giảm trong khi chi phí đầu vào tăng.
Không riêng gia đình chị Hằng, nhiều hộ trồng chè tại các xã vùng cao đều chung tâm trạng lo lắng. Chè vẫn là cây trồng chủ lực, nhưng thu nhập ngày càng bấp bênh do phụ thuộc thị trường.
Tại thôn 1, xã Liên Sơn, nơi có gần 100 ha chè, khoảng 60% hộ dân sống dựa vào cây chè, tình hình cũng không mấy khả quan. Gia đình chị Nông Thị Hương có 4 ha chè, những ngày này vẫn đều đặn thu hái nhưng giá bán khiến chị không khỏi lo lắng.
“Giá chè năm nay xuống thấp, có thời điểm chỉ còn hơn 3.000 đồng/kg. Trong khi đó, chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đều tăng. Nếu tình trạng này kéo dài thì người trồng chè rất khó duy trì sản xuất như trước”, chị Hương chia sẻ.
Cùng chung nỗi lo, ông Trần Quang Trất - Trưởng thôn 1 xã Liên Sơn cho biết: “Cây chè là nguồn thu nhập chính của người dân trong thôn. Khi giá chè giảm, đời sống bà con bị ảnh hưởng rõ rệt. Điều người dân mong nhất lúc này là có đầu ra ổn định, giá cả hợp lý để yên tâm gắn bó lâu dài với cây chè”.
Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Môi trường, bên cạnh yếu tố khách quan từ thị trường quốc tế, ngành chè Lào Cai còn nhiều hạn chế. Trước hết, sản phẩm chủ yếu vẫn là chè nguyên liệu thô, giá xuất khẩu bình quân chỉ khoảng 2,5 USD/kg. Tỷ lệ chế biến sâu thấp khiến giá trị gia tăng hạn chế, khó tiếp cận các thị trường cao cấp như: EU, Mỹ, Nhật Bản.
Bên cạnh đó, quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, năng lực tài chính yếu, liên kết chuỗi giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp - logistics chưa chặt chẽ. Hạ tầng logistics chuyên biệt còn thiếu, làm tăng chi phí và giảm sức cạnh tranh. Điều kiện sản xuất cũng là rào cản lớn. Địa hình vùng chè chủ yếu là đồi núi, chia cắt, khiến việc cơ giới hóa khó triển khai, chi phí thu hái và vận chuyển cao. Những “điểm nghẽn” này khiến ngành chè dễ bị tổn thương khi thị trường biến động, như thực tế đang diễn ra.
Trước tình hình trên, Sở Nông nghiệp và Môi trường xác định mục tiêu trước mắt là ổn định tâm lý người dân, giữ vững vùng nguyên liệu. Các địa phương được yêu cầu tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu rõ khó khăn hiện nay chỉ mang tính tạm thời, tránh tâm lý hoang mang, chặt bỏ chè. Đồng thời, vận động nông dân ký kết hợp đồng liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã để đảm bảo đầu ra ổn định.
Các doanh nghiệp, hợp tác xã cũng được khuyến khích chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, theo dõi sát diễn biến thị trường để hạn chế rủi ro. Việc mở rộng tiêu thụ trong nước thông qua hệ thống bán lẻ, siêu thị và thương mại điện tử được xác định là hướng đi cần đẩy mạnh.
Đáng chú ý, giải pháp hỗ trợ tín dụng được đặt ra nhằm giúp doanh nghiệp và người dân vượt qua giai đoạn khó khăn. Ngân hàng được đề nghị xem xét khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất, tạo điều kiện duy trì sản xuất.
Theo ông Nguyễn Thái Bình - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, về lâu dài, ngành chè Lào Cai cần chiến lược phát triển căn cơ hơn, theo hướng nâng cao giá trị và giảm phụ thuộc thị trường. Chính quyền cơ sở cần thúc đẩy phát triển hợp tác xã, hỗ trợ doanh nghiệp ký kết hợp đồng với nông dân, hình thành chuỗi giá trị bền vững.
Song song với đó, việc nâng cao giá trị gia tăng là yếu tố then chốt. Doanh nghiệp cần đầu tư vào chế biến sâu, phát triển các sản phẩm chất lượng cao như chè hữu cơ, chè túi lọc, đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường "khó tính".
Công tác xây dựng thương hiệu cũng cần được chú trọng. Việc áp dụng quy trình sản xuất an toàn, truy xuất nguồn gốc sẽ giúp chè Lào Cai nâng cao uy tín, mở rộng thị trường.
Đặc biệt, đa dạng hóa thị trường tiêu thụ là yêu cầu cấp thiết. Ngành chè cần giảm dần sự phụ thuộc vào thị trường Trung Đông, hướng tới các thị trường tiềm năng như châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ. Việc ứng dụng chuyển đổi số, thương mại điện tử trong quảng bá và tiêu thụ sản phẩm cũng được xác định là xu hướng tất yếu.
Thực tế cho thấy, dù gặp khó khăn, nhưng các doanh nghiệp vẫn duy trì thu mua, chính quyền địa phương chủ động vào cuộc, người dân tiếp tục "bám" vườn chè. Vấn đề đặt ra không chỉ là vượt qua giai đoạn khó khăn trước mắt, mà là tái cấu trúc ngành chè theo hướng bền vững, nâng cao giá trị, giảm phụ thuộc vào một vài thị trường.
Giữ vững vùng chè không chỉ là giữ một loại cây trồng, mà còn là giữ sinh kế, ổn định kinh tế - xã hội ở vùng cao. Để làm được điều đó, cần sự vào cuộc đồng bộ từ chính quyền, doanh nghiệp đến người dân với những giải pháp đủ mạnh và đủ dài hơi.