Tin nhắn của anh Giàng A Sùng - Trưởng Ban Xây dựng Đảng, Đảng ủy xã Lao Chải, khiến chúng tôi vui lây. Như vậy, sau 6 tháng chăm sóc, những khóm khoai được xuống giống trong ngày phát động phong trào "Hỗ trợ sinh kế, giảm nghèo bền vững" đã cho thu hoạch. Một mùa vụ mới đang mở ra, cùng với đó là hy vọng về hướng làm ăn đầy triển vọng cho vùng cao còn nhiều gian khó này.
6 tháng trước, nương đồi ở Lao Chải rộn ràng không khí sản xuất khi mô hình trồng 2,5 ha khoai sọ thơm được triển khai. Cán bộ, đảng viên trực tiếp xuống ruộng cùng người dân lao động. Những đôi bàn tay lấm đất, những giọt mồ hôi và nhiều câu chuyện trao đổi ngay bên luống khoai đã đưa chủ trương giảm nghèo đến gần hơn với đời sống.
Những ngày này, cán bộ lại cùng người dân kiểm tra cây trồng, cùng dỡ khoai, cân sản phẩm và trao đổi về khả năng mở rộng mô hình. Từ lúc bắt đầu xuống giống đến khi thu hoạch, quá trình ấy không chỉ giúp người dân làm quen với cây trồng mới, mà còn tạo cơ hội để đánh giá khả năng thích nghi của cây với điều kiện canh tác tại địa phương.
Gia đình chị Thào Thị Nu ở thôn Lao Chải là một trong những hộ tham gia mô hình. Trước đây, gia đình chỉ trồng vài khóm khoai phục vụ nhu cầu hằng ngày, khi được xã vận động chuyển sang trồng theo hướng hàng hóa, chị có cơ hội mở rộng diện tích.
Chị Nu chia sẻ, ban đầu, gia đình không nghĩ cây khoai sọ thơm lại phù hợp với điều kiện ruộng bậc thang của địa phương. Qua quá trình chăm sóc, cây sinh trưởng tốt, củ phát triển, giúp gia đình thêm tin tưởng vào hướng sản xuất mới.
Tại thôn Hú Trù Lình, anh Mùa A Sùng cũng được xã vận động, hỗ trợ giống để trồng thử nghiệm gần 400 m² đất của gia đình. Qua kiểm tra, cây khoai hiện sinh trưởng tốt, mở ra kỳ vọng về một khoản thu nhập bổ sung.
Qua đánh giá ban đầu, năng suất khoai sọ thơm ước đạt 7,5 - 8 tấn/ha. Tại thời điểm cuối tháng 9/2026, giá khoai khoảng 20.000 - 25.000 đồng/kg. Với năng suất và giá bán này, doanh thu dự kiến có thể đạt khoảng 150 - 160 triệu đồng/ha; lợi nhuận ước tính khoảng 55 - 60 triệu đồng/ha. Dù đây mới là những con số ước tính, nhưng đã mang đến tín hiệu đáng mừng. Quan trọng hơn, người dân có thêm cơ hội tiếp cận một loại cây trồng mới, từng bước đa dạng hóa sản xuất và tìm kiếm nguồn thu phù hợp với điều kiện của gia đình.
Theo ông Giàng A Sùng - Trưởng Ban Xây dựng Đảng, Đảng ủy xã Lao Chải, mô hình trồng khoai sọ thơm có sự tham gia của 46 hộ tại các thôn: Lao Chải, Dào Xa, Hú Trù Lình, Dào Cu Nha, Cồ Dề Sang và Xéo Dì Hồ. Thông qua mô hình, địa phương kỳ vọng người dân có thêm kinh nghiệm sản xuất, từng bước thay đổi cách nghĩ, cách làm và chủ động tìm hướng phát triển kinh tế phù hợp.
Điểm đáng chú ý trong quá trình triển khai là cán bộ không đứng ngoài hướng dẫn, mà trực tiếp tham gia lao động cùng người dân, hỗ trợ giống, hướng dẫn kỹ thuật và theo dõi quá trình sản xuất. Việc vận động vì thế gắn liền với những hành động cụ thể, giúp người dân hiểu rõ hơn cách làm và có thêm niềm tin khi bắt tay thực hiện.
Là xã vùng cao đặc biệt khó khăn của Lào Cai, Lao Chải có địa hình chia cắt, điều kiện sản xuất còn hạn chế. Đồng bào Mông chiếm 99,4% dân số; đời sống kinh tế chủ yếu dựa vào canh tác truyền thống như lúa, ngô, khoai, sắn. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo lần lượt ở mức 29,94% và 8,45%, cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tạo thêm sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân.
Việc tìm kiếm những mô hình sản xuất phù hợp, có khả năng tạo thu nhập ổn định vẫn là bài toán đặt ra đối với cấp ủy, chính quyền địa phương.
Từ mô hình khoai sọ, Lao Chải tiếp tục tìm kiếm những hướng sinh kế phù hợp với điều kiện từng địa bàn, từng loại đất và nhu cầu thị trường. Tiêu biểu như tận dụng diện tích ruộng một vụ để trồng ớt, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Tại thôn Dào Xa, mô hình trồng ớt được xây dựng với quy mô dự kiến khoảng 5 ha, với 8 hộ tham gia nòng cốt. Mục tiêu là tận dụng diện tích đất sau thu hoạch lúa, tổ chức sản xuất theo hướng tập trung, có hướng dẫn kỹ thuật và từng bước kết nối với đơn vị tiêu thụ.
Để triển khai mô hình, các bộ phận chuyên môn, trưởng thôn, hợp tác xã và các tổ chức đoàn thể được phân công phối hợp. Người dân được hướng dẫn quy trình canh tác, ghi chép nhật ký sản xuất và thực hiện các yêu cầu về an toàn thực phẩm. Đơn vị liên kết tham gia cung ứng giống, vật tư, hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức thu mua theo thỏa thuận.
Đáng chú ý, mô hình trồng ớt được định hướng gắn với liên kết tiêu thụ. Hợp tác xã Sản xuất và chế biến nông sản xuất khẩu G.O.C tham gia cung cấp giống, vật tư, cử cán bộ kỹ thuật hướng dẫn tại ruộng và phối hợp thu mua theo thỏa thuận. Qua đó, người dân có điều kiện tiếp cận quy trình sản xuất và những yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Từ khoai sọ đến cây ớt, điểm chung trong cách làm của Lao Chải là gắn vận động người dân với những điều kiện thiết yếu của sản xuất. Đây là những yếu tố cần thiết để người dân không chỉ mạnh dạn bắt đầu, mà còn có cơ sở duy trì mô hình lâu dài.
Trong điều kiện ấy, giảm nghèo bền vững không thể chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ trước mắt. Điều quan trọng hơn là giúp người dân có kiến thức, có tư liệu sản xuất, biết lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện gia đình và từng bước hình thành thói quen làm ăn có tính toán.
Tại các cuộc kiểm tra, đánh giá mô hình, đồng chí Phạm Đức Thịnh - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Lao Chải ghi nhận những kết quả bước đầu, đồng thời đề nghị các hộ chủ động áp dụng biện pháp kỹ thuật phù hợp, khai thác hiệu quả diện tích sản xuất; yêu cầu lựa chọn mô hình sinh kế gắn với điều kiện thực tế, phát huy vai trò chủ thể của người dân, hướng tới nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững.
"Để những hướng đi ấy phát huy hiệu quả, sự đồng hành của cấp ủy, chính quyền cần tiếp tục gắn với nhu cầu thực tế của từng hộ dân; việc lựa chọn mô hình phải tính đến điều kiện đất đai, tập quán canh tác, khả năng đầu tư và đầu ra sản phẩm. Cùng với đó, người dân cần được hướng dẫn để chủ động hơn trong tổ chức sản xuất, theo dõi chi phí và đánh giá hiệu quả kinh tế. Khi những yếu tố này được tính toán đồng bộ, các mô hình sinh kế mới có cơ sở phát triển ổn định và tác động lâu dài đến công tác giảm nghèo", ông Thịnh nhấn mạnh.
Từ những việc làm cụ thể trên đồng đất, một hướng đi đang dần được mở ra, để người dân có thêm lựa chọn sinh kế, thêm cơ hội làm chủ sản xuất và từng bước cải thiện cuộc sống trên quê hương.