Báo Lào Cai Online
Hotline: 02143.840.046 - 0986575708

Truyện

Bát ngát một vùng trời xuân

09/02/2016 15:53

- Bác Khang à, nhân dịp mừng thọ bác lên lão 65, em có món quà nhỏ gọi là...

Thọ, bạn văn chương từ thời chúng tôi cùng dạy học ở Lao Cai vừa ngập ngừng, vừa đặt xuống đất một cái lồng tre hình quả vả thấp tè, trên phủ một cái chóp nón mê.

Minh họa của Trung Hiếu.

Không nhìn thấy toàn thân, chỉ thấy hai cái chân con chim đỏ hồng dưới đáy lồng, tôi đã biết ngay đó là con cu gáy. Ngã ba sông Bạch Hạc - Việt Trì, miền cư trú của người Việt mấy nghìn năm trước đây, vùng đất đai thanh quang, khoáng đạt quê của Thọ là nơi cu gáy thường về hội tụ. Mà Thọ là nhà giáo đã nghỉ hưu, lại là dân sành chơi chim; anh đã chơi chim họa mi khi còn dạy học ở vùng đồng bào Mông tại xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương. 

- Con cu gáy này em đã nuôi bốn năm. Nó có tiếng gáy rất hay và đóng vai chim mồi, dụ chim ngoài rất khéo, bác ạ! - Thọ nói tiếp. Rồi khi tôi mừng rỡ gọi bà vợ và thằng cháu nội ra để khoe thì Thọ nhấc cái lồng chim lên và cởi bỏ cái chóp nón phủ trên nóc lồng để chúng tôi cùng nhìn thấy toàn bộ hình hài con chim.

Ôi, con cu gáy Thọ tặng tôi! Con chim đẹp quá! Thân mình hình củ đậu. Đuôi thắt. Chân ngắn, mập, vẩy đóng chữ nhân. Lông tướng hai bên mép trắng như cước. Mặt đỏ, vành lớn. Hai vây cánh dày. Và đặc biệt, cổ nó đeo một chuỗi vòng cườm. Chỉ trông bề ngoài tướng mạo, thần thái đã thấy nó vừa chân mộc, vừa duyên dáng cao sang rồi.

- Nuôi nó thế nào hả, chú Thọ?

Vợ tôi nhanh nhảu. Thọ vui vẻ:

- Nó rất dễ nuôi. Nó vẫn là loại chim đồng quê, ăn thóc, ngô mùa vụ, thi thoảng chị cho ăn thêm ít vừng hoặc đỗ xanh nữa là đủ!

Thằng cháu tôi thò ngón tay vào khe lồng, chạm vào lưng con chim, kêu:

- Ơ sao nó không gáy, hả ông?

Thọ cúi xuống, nhân tiện ụp cái chóp nón lên nóc lồng, khe khẽ:

- Nó còn sợ đấy! Khi nó gáy thì hay tuyệt, có khi còn làm cháu mải nghe mà quên cả học bài ấy chứ. Giọng của nó trầm, nên gọi là giọng thổ, một loại giọng quý hiếm đấy. Nó lại gáy liền một lúc những bốn tiếng, dân chơi gọi nó là con giọng thổ mổ tứ.

 Yêu quý các con vật là một đặc tính tự nhiên của con người - nhất là thằng cháu nội của tôi. Đi học về, lập tức chú bé sán đến cái lồng ngắm nghía, trò chuyện với con chim. Mặc dù bà nội đã can vì sợ cháu mải vui quên học hành, nhưng nó vẫn lùng bắt cào cào, châu chấu về lén lút đút vào lồng cho con cu gáy ăn. Người sốt ruột, ngóng đợi nhất tiếng gáy của con chim cũng là chú bé.

Cuối cùng thì chính tôi cũng sốt ruột. Vì đã ba ngày qua, rồi một tuần lễ qua rồi mà con chim vẫn chưa hề cất một tiếng gáy gọi là. Tôi vội gọi điện cho Thọ. Thọ dặn: “Vậy, chủ nhật này bác đem lồng chim ra công viên Thủ Lệ, tìm một bãi sỏi nhỏ, đặt xuống đấy cho nó nhặt ăn vài viên, để nó gần gũi với thiên nhiên”.

Tôi làm theo lời Thọ dặn. Quả nhiên, năm ngày sau, con chim bắt đầu cất tiếng gáy. Ôi, con chim cu đã cất tiếng gáy! Hồi hộp quá! Đó là lúc bình minh vừa hé. Tôi nhổm dậy, bảo cả nhà nằm im, thật im lặng để tận hưởng cho hết thanh sắc kỳ lạ của tiếng chim gáy trong khoảng không gian trong trẻo lúc sớm mai. Cu cu cu cu... cú! Cu cu cu cu... cú! Ôi, tiếng gáy của con chim cu nhà tôi! Bốn âm cu giọng trầm ấm phát ra tròn trĩnh, nuột nà, ngọt ngào, đều đặn, tới âm cuối thì vuốt dài thêm chút đỉnh để rồi bất thình lình hất lên một âm sắc cao vênh, tạo nên một chuỗi hợp âm ngân nga như tiếng chuông đồng. Ôi, cái tiếng gáy giọng thổ mổ tứ quý hiếm ấm ngọt, dịu hiền và sâu lắng của con chim!

*

*      *

Tiếng chim! Trên đời này thử hỏi còn có âm thanh nào kỳ diệu hơn tiếng chim? 

Ôi, con cu gáy giọng thổ mổ tứ của tôi! Tiếng gáy của nó là tiếng vàng, tiếng bạc, là chuỗi châu báu, ngọc ngà, là tiếng hát thiết tha của một nghệ sĩ tài ba. Nó gợi nhớ tình quê. Nó đưa ta về đồng ruộng, xóm, thôn, mùa màng. Nó khiến ta rưng rưng nỗi luyến nhớ xa xôi.

Chính trong những phút đang xao lòng vì tiếng chim, tôi bỗng thấy lòng mình chợt lặng đi và một ý tưởng ngờ ngợ chợt thấp thoáng hiện hình. Con chim dâng hiến tiếng gáy của nó cho tôi, hiển nhiên là nó cũng có bầu bạn, bầy đàn, bản quán quê hương và cuộc sống thân quen. Và hãy tưởng tượng xem, một ngày nào đó, nó phải chia lìa xa tất cả!

Nghĩ vậy, nhưng trong tâm trạng một kẻ quen được hưởng thụ, tôi lại vội gạt ngay đi, bởi chợt nhớ tới một tích chuyện cổ xưa. Chuyện xưa kể rằng, có hai người đang đi thì trông thấy một đàn cá tung tăng bơi lội dưới nước. Một người nhìn đám cá, bảo: Bơi lội thế kia hẳn là đàn cá đang vui vẻ lắm! Nghe vậy, người bạn anh này mới bắt bẻ lại rằng: Anh có phải là cá đâu mà biết chúng đang vui vẻ? Nói câu ấy, anh chàng tưởng mình đã nắm chắc chân lý. Nào ngờ, “gậy ông lại đập lưng ông”, người nói đàn cá đang vui, lập tức vặn lại anh kia rằng: Vậy anh cũng có phải là cá đâu mà biết là chúng đang không vui!

                  Chà! Vậy thì tôi có phải là con cu gáy đâu mà dám chắc nó gáy thế là nó đang buồn rầu hay vui vẻ? Suy ngẫm từ đó mà ra, để thấy rằng phương pháp luận của chúng ta, của nhiều bộ môn khoa học, nhất hạng là khoa học xã hội nhân văn, căn bản là chủ quan, rất chủ quan, đại chủ quan, chứ đâu phải là vô tư, khách quan như vẫn tự biện hộ. 

Tiếng hót của con chim gáy gây ấn tượng với thằng cháu tôi. “Cháu không học được, ông ạ!” - cậu chàng thú nhận. Nhiều lúc đang ngồi ở bàn học hoặc đọc sách, nghe thấy con chim gáy, nó liền đánh rơi bút, buông sách, ngẩn ngơ tâm trí cả buổi liền. Tôi bảo cháu xuống tầng trệt học, đọc để không nghe thấy tiếng chim hót nữa. Vẫn không được. Tiếng gáy của con chim cu vẫn âm vang, đồng vọng trong tâm trí cậu chàng, là bởi vì có những ngày, con chim bỗng gáy nhiều, gáy dồn dập hơn lệ thường. Và bấy giờ, thằng cháu tôi mới như phát hiện ra điều bí ẩn, bỗng chợt kêu: “Ông ơi, sao mình ác thế? Ai lại bắt con chim ở trong cái lồng chật thế kia? Vừa khổ cho nó mà mình thì không trông thấy hình vóc nó thế nào, ông ạ!”.

Quả thật, nghe cháu nói, tôi mới để ý tới cái lồng chim. Thì ra, từ ngày Thọ tặng tôi con chim, con chim vẫn phải ở trong cái lồng chật hẹp ấy. Lồng đan bằng dây thép, nhang nhác hình củ hành, theo kiểu “thượng thu, hạ thách”. Đáy lồng tròn, nhỏ chỉ bằng cái khay nước, thót dần lên, tính ra chiều cao từ đáy lên tới đỉnh chỉ nhỉnh hơn gang tay tí chút. Đã thế, nóc lồng lại phủ một mảnh ni lông và úp xụp một cái nón cũ. Như vậy thì con chim cu có giọng gáy vàng, gáy bạc của tôi có khác gì tù nhân bị giam hãm trong một xà lim chật chội, ngột ngạt. 

*

*      *

Còn có một người đàn ông nữa thông cảm với hoàn cảnh tù túng, khổ sở của con chim cu và bị tiếng gáy của nó hút hồn. Người đó là ông Tùng, một nhà sinh vật học về hưu, hàng xóm kề cận của gia đình chúng tôi. Ngư, thư, thụ, điểu, cá, sách, cây, chim, ông đều thích. Nhưng ông thích nhất là chơi chim. Và hiểu biết của ông về chim có thể sánh với một điểu học gia. Về việc bẫy chim mi, từ cách làm lưới bằng lông đuôi ngựa, tới kiểu bẫy lồng sập, đến lối đón lõng chim ở các búi cây lúp xúp, ông đều thành thạo. Ông làm bẹp môi bằm bặp giả y hệt tiếng mái xuỳ, gọi cuốc bằng khẩu thuật tài tình. Nhà ông có hàng chục loại chim và ông đã dạy con yểng, con khiếu nói được giọng người.  

Sang nhà tôi chơi, ông  Tùng mê liền con cu gáy Thọ cho tôi. Nghe nó gáy, ông bảo: Quả là cậu chàng này có tiếng quý hiếm thật! Cu có con gáy giọng thổ, giọng còi. Giọng thổ có thổ con tiếng gọn ghẽ, thanh thoát, thổ khàn không ngân nga, thổ đồng nghe như chuông và thổ pha, nửa khàn, nửa đồng. Con cu gáy này thuộc loại thổ đồng, tiếng gáy vừa ngân nga như chuông, vừa rền như sấm xa. Người chơi chim cả đời có khi không có được con chim vừa ý đâu. Còn ở bên Châu Âu có tập quán rất lạ là khi nghe tiếng con cu gáy trầm bổng, người ta vội tìm lấy đồng bạc nắm chặt vào lòng bàn tay, như vậy cả năm ấy sẽ gặp may mắn.

Rồi thông cảm với cảnh ăn ở chật chội của con cu gáy giọng thổ mổ tứ của chúng tôi, ông Tùng vác sang nhà tôi một cái lồng hình quả hồng, to như cái chuông chùa, nan vót kỹ, quang dầu bóng nhoáng.

 Chúng tôi thận trọng mở cửa cái lồng cũ, rồi đưa con cu gáy sang cái lồng mới. Đóng cửa lồng mới xong, ông Tùng cười vui: Nào bây giờ mỗi người tìm một đồng bạc chuẩn bị nghe nó hót, rồi nắm lại xem có đúng như người Châu Âu nói không?

*

*      *

Cái lồng chim mới được mắc vào cành khế thấp nhất ở ngoài sân. Đồng bạc 5.000 đồng đặt vào lòng bàn tay. Tất cả chúng tôi, kể cả ông Tùng điểu học gia, đều dán mắt vào con cu gáy trong lồng. Bây giờ thì chúng tôi tha hồ thoả thuê ngắm nó. Bây giờ thì chú chim cũng tha hồ mà phởn phơ thoải mái. Chú đi đi, lại lại dưới đáy lồng. Chú nhẩy lên cái cáng bắc ngang lồng, vỗ hai cánh phàm phạp. Chú rung cái đuôi bó thắt, mổ choanh choách từng hạt đỗ trong cái ang sành. Chú ngúc ngoắc cái cổ đầy cườm, nghé nghiêng bốn phía rồi ngước lên cao, nhìn qua nan lồng, nơi trời xuân tươi mởn, tràn trề một sắc xanh lam. Và chỉ thế thôi, trong khi chúng tôi đợi chờ.

Chúng tôi đã đợi chờ! Đợi chờ đến nóng cả hai con mắt! Nhưng chờ mãi cũng chỉ có thế thôi, nghĩa là chú không hề cất tiếng gáy. Chú im phắc trong khi vẫn động đậy thân mình. Chú như kẻ đánh mất tiếng, trở thành chú chim câm! Chú phớt lờ sự mong mỏi chờ đợi của chúng tôi. Vậy là thế nào?

Là thế nào mà vừa mới chuyển từ cái lồng chật hẹp sang chiếc lồng cao rộng thoáng đãng, chú chim gáy giọng thổ mổ tứ của tôi lại biến thành một chú chim câm? Chú đã biến thành một chú chim câm thật rồi, mặc thằng cháu tôi vừa đập tay vào nan lồng, vừa xuỳ xuỳ thúc giục nịnh nọt, khẩn cầu: Hót đi chim ơi. Hót đi chim ơi! 

 - Thọ ơi! Cứu nguy khẩn cấp! Cứu nguy khẩn cấp! Con cu gáy giọng thổ mổ tứ không biết gáy nữa rồi!

   Hết cách, tôi vội gọi điện cho Thọ. Và kỳ lạ chưa, vừa nghe tôi nói việc chuyển đổi lồng cho con chim cu, Thọ đã bật cười rổn rảng:

- Thế thì rõ rồi. Nghệ sĩ một khi được sống nơi nhà cao, cửa rộng, ăn sung, mặc sướng hơn đồng loại thì còn gì là cảm hứng sáng tạo nữa.

- Thế là thế nào?

Tôi hoang mang giật giọng hỏi Thọ. Thọ hạ giọng:

- Thử vận dụng một tí vào nghề văn của bác xem có ổn hay không thôi? Còn với loài chim này thì em giải thích như sau để bác nghe xem có thủng không nhé! Với con cu gáy khác thì có thể không phải thế, nhưng với con giọng thổ mổ tứ em nuôi này là phải vậy đấy. Bác có thấy cái lồng em nhốt nó không? Chật hẹp, lụp xụp, tối tăm. Nghĩa là ta phải chủ động tạo ra một hoàn cảnh sống, một nơi ăn, chốn ở gây cho nó cảm giác bí bức, khổ sở. Chính vì hoàn cảnh ấy mà nỗi nhớ trời xanh tự do, nhớ bầy, nhớ bạn, nhớ ruộng đồng của nó mới càng trở nên bức xúc và thế là khi đã phẫn thì phải phát, nghĩa là sự bó buộc khiến nó phải cất thành tiếng, thành lời, thành giọng ca!

Tôi chưng hửng và ngất ngư cả người. Lại chợt nhớ tới tích truyện hai người bạn và đàn cá đã nói ở trên. Vậy thì Thọ đã thật sự là chim rồi nên mới hiểu chim đến tận đáy lòng như thế! Như thế có thể tin chắc rằng, những âm thanh nuột nà, vàng ngọc của con cu gáy đã từng làm mê mẩn hồn ta, chỉ là kết quả của một cuộc đọa đầy, hành xác của con người; đó chỉ đơn thuần là tiếng lòng thổn thức của một kẻ bị giam hãm, tù đầy, bị cách ly đồng loại thôi! Đó tuyệt đối không phải là tiếng hót tự nhiên của con chim được bay nhảy dưới trời xanh, trên đồng ruộng, không phải là tiếng ca cất lên từ cuộc sống tự do, vui vẻ với bầy đàn. Ôi, một tiếng chim mà thăm thẳm nỗi đời!

Thằng cháu tôi xem ra còn chưng hửng hơn tôi. Một sớm mùa xuân tinh mơ, nó đánh thức tôi: “Ông ơi, ông dậy đi, cháu bảo cái này!”. Tôi chống tay ngồi dậy, đi ra sân. Cái lồng chim giống cái chuông treo trên cành khế còn đó, nhưng cửa lồng mở toang và trong lồng rỗng không!

- Cháu thả con cu gáy rồi ông ạ!

Thằng cháu tôi nói, mắt rưng rưng lệ. Thì ra là thế, đó là tiếng nói nơi đầu nguồn nhân cách trong trẻo của thằng cháu tôi. Nó không cầm lòng được khi thấy con chim gáy phải sống trong cảnh ngục tù. Sự sung sướng, vui vẻ của ta không nên có trên nỗi đau tủi của kẻ khác. Ta là con người và hơn tất cả mọi sinh thể, ta có năng lực và tấm lòng rộng mở tới vô cùng. Do vậy từ đây, tiếng gáy của con cu gáy giọng thổ mổ tứ với ta chỉ còn là tiếng khóc than ai oán của một số phận đơn côi, chịu án cách ly với đồng loại mà thôi! Ta không thể ỷ vào bất cứ một mục đích nào để biện hộ cho hành vi trói buộc vô nhân được!

  - Ông à, ông có giận cháu không?

Thằng cháu tôi bước lại bên tôi, thỏ thẻ hỏi. Tôi khe khẽ lắc đầu. Rồi ông cháu tôi cùng ngước lên bầu trời. Trời bát ngát một màu xanh xuân sang. Đó là nơi bay lượn của chim, những “ca sĩ” có cánh, có tiếng hót kỳ diệu không sinh vật nào sánh nổi!

Ma Văn Kháng
Mã bảo mật

Các tin khác

Tổng Biên tập: Ngô Văn Hinh, Phó Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Hoàng - Đặng Viết Xuyên. Trụ sở: Tầng 6, khối 4, phố 30 tháng 4, P.Bắc Lệnh, T.P Lào Cai.

Giấy phép xuất bản số: 41/GP-BTTTT cấp ngày 28/01/2016; Điện thoại: 0214.3840.046 - Fax: 0214.3840.921; Email: baolaocaidientu@gmail.com

Ghi rõ nguồn “Báo Lào Cai điện tử” khi sử dụng thông tin trang này.