CHUYÊN ĐỀ 2

                            

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG

VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ HIỆN NAY

(Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch chuyên viên chính

khối Đảng, Đoàn thể tỉnh Lào Cai năm 2017)

                                                              ---------    

Phần thứ nhất

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẢNG CẦM QUYỀN VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC

LĂNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG T̀NH H̀NH MỚI

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẢNG CẦM QUYỀN

1. Một số vấn đề về lư luận

- “Đảng cầm quyền” là khái niệm dùng trong khoa học chính trị, chỉ một đảng chính trị đại diện cho một giai cấp đang nắm giữ và lănh đạo chính quyền để điều hành, quản lư đất nước nhằm trước hết phục vụ lợi ích của giai cấp ḿnh.

- Khái niệm “Đảng cầm quyền” lần đầu tiên được V.I.Lênin nêu ra. Sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh đă sử dụng thuật ngữ này để nói về vai tṛ cầm quyền của Đảng như: Đảng giành được chính quyền, Đảng nắm chính quyền, Đảng lănh đạo chính quyền, Đảng cầm quyền. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được Đại hội toàn quốc lần thứ X, XI thông qua cũng ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền”.

- Nội dung, phương thức lănh đạo của Đảng khi chưa giành được chính quyền và khi đă giành được chính quyền rất khác nhau:

  + Khi chưa có chính quyền, phương thức lănh đạo của Đảng chủ yếu là các tổ chức đảng và đảng viên trực tiếp tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng đến các hội, đoàn thể, quần chúng “cốt cán”, thậm chí đến từng người dân; từ đó tổ chức nhân dân thực hiện. Lúc này, quan hệ của Đảng với Nhân dân là quan hệ máu thịt; mọi sự xa rời Nhân dân đều dẫn đến tổn thất cho cách mạng, cho sinh mệnh của tổ chức đảng và đảng viên. Trong điều kiện chưa có chính quyền, trong Đảng không có điều kiện để phát sinh tệ quan liêu, ức hiếp quần chúng.

  + Khi Đảng đă có chính quyền th́ chính quyền là công cụ mạnh mẽ, sắc bén nhất để đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào cuộc sống, bảo đảm sự lănh đạo của Đảng đối với toàn xă hội. Lúc này, ngoài việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân, Đảng lănh đạo chính quyền (Nhà nước) thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Lúc này, Đảng cầm quyền là Đảng lănh đạo chính quyền và thông qua chính quyền để nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xă hội.

2. Thuận lợi và nguy cơ đối với một Đảng duy nhất cầm quyền

Là Đảng duy nhất cầm quyền, Đảng có nhiều thuận lợi cơ bản, nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ bên trong rất nguy hiểm. Cụ thể là:

a) Về thuận lợi:

- Đảng không có các đảng phái chính trị đối lập, do đó Đảng không có sự cạnh tranh về vai tṛ lănh đạo đối với đất nước và xă hội;

- Đảng hoạt động một cách công khai, hợp pháp, hợp hiến; vai tṛ lănh đạo của Đảng được quy định tại Điều 4, Hiến pháp Nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Đảng có Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước của dân, do dân và v́ dân; có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xă hội hoạt động dưới sự lănh đạo thống nhất của Đảng.

- Bằng hoạt động thực tiễn hơn 86 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân thừa nhận là người tổ chức, lănh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; được nhân dân tin tưởng, bảo vệ Đảng.

- Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền khác trên thế giới; có sự đồng t́nh, ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hoà b́nh, tiến bộ trên thế giới.

b) Về nguy cơ:

Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đă sớm cảnh báo hai nguy cơ đối với Đảng là: Nguy cơ sai lầm về đường lối và nguy cơ suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ Đại hội VII của Đảng (1/1994), Đảng đă bổ sung và xác định 4 nguy cơ là:

- Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, do điểm xuất phát thấp;

- Nguy cơ sai lầm đường lối, đi chệch định hướng xă hội chủ nghĩa;

- Nguy cơ tham nhũng và tệ quan liêu, lăng phí;

- Nguy cơ “Diễn biến hoà b́nh” của các thế lực thù địch, phản động. 

Trong 4 nguy cơ nêu trên th́ có hai nguy cơ bên trong rất nguy hiểm, có thể làm mất vai tṛ lănh đạo của Đảng bất cứ lúc nào, đó là:

(1). Nguy cơ sai lầm về đường lối, đi chệch định hướng xă hội chủ nghĩa. Đây là nguy cơ có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhất là khi có những biến động lớn ở trong nước hoặc trên thế giới và trước những bước ngoặt của cách mạng. Tuy nhiên, việc sai lầm về đường lối chỉ có thể diễn ra ở cấp lănh đạo cao nhất của Đảng, bởi đây là cấp hoạch định ra chủ trương, đường lối. V́ vậy, việc xây dựng một tập thể lănh đạo cấp cao của Đảng đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong mỗi thời kỳ là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Quán triệt quan điểm này, Hội nghị Trung ương 6 (khoá XI) đă thông qua Đề án: “Quy hoạch Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lănh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016 - 2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo”.

(2). Nguy cơ về sự suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lăng phí. Khi Đảng đă trở thành Đảng cầm quyền, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trở thành những cán bộ có chức, có quyền trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Đây là điều kiện dễ làm cho cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, chạy theo chức, quyền, danh, lợi, dẫn đến phai nhạt lư tưởng, xa rời nhân dân, tham nhũng, lăng phí. Trong điều kiện mới hiện nay, nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ngày càng tinh vi, phức tạp; nếu không kịp thời đấu tranh, khắc phục sẽ dẫn đến sự suy vong của Đảng.

Như vậy, 4 nguy cơ mà Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng đă chỉ ra, đến nay vẫn c̣n nguyên tính thời sự, nó không chỉ c̣n là nguy cơ, mà đă trở thành thách thức trong thực tế và ngày càng trở nên bức thiết đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

II. NÂNG CAO NĂNG LỰC LĂNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CẦM QUYỀN

1. Năng lực lănh đạo của Đảng cầm quyền

Khi trở thành Đảng cầm quyền lănh đạo đất nước, Đảng cầm quyền phải đề ra chủ trương, đường lối và lănh đạo thực hiện để xây dựng, phát triển đất nước. Kết quả thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng đề ra chính là thước đo để đánh giá năng lực lănh đạo và vai tṛ cầm quyền của Đảng đó. Năng lực lănh đạo của Đảng cầm quyền thể hiện tập trung trên 5 nội dung chủ yếu sau:

(1). Năng lực nhận thức quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước để đề ra chủ trương, đường lối cách mạng đúng đắn. Đồng thời, phải có năng lực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lư luận, làm sáng tỏ những vấn đề mới nảy sinh, tạo sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng.

(2). Năng lực thể chế hoá, cụ thể hoá chủ trương, đường lối của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, các chính sách, chương tŕnh, kế hoạch, nhiệm vụ và giải pháp để phát triển đất nước, phản ánh ư chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

(3). Năng lực tổ chức, lănh đạo Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối, chính sách, mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng đă đề ra. Đây thực chất là năng lực lănh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đảng phải xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh; bộ máy gọn nhẹ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

(4). Năng lực kiểm tra, giám sát hoạt động của hệ thống chính trị; kịp thời phát hiện và xử lư đúng đắn, có hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn;

(5). Năng lực phát hiện, đấu tranh khắc phục sự suy thoái, biến chất và tiêu cực ở trong Đảng, trong xă hội; sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch.

2. Nâng cao năng lực lănh đạo của Đảng cầm quyền

Để nâng cao năng lực lănh đạo của Đảng cầm quyền, Đảng phải đồng thời nâng cao cả 5 năng lực nêu trên, trong đó, việc nâng cao năng lực hoạch định chiến lược, đề ra đường lối chính trị đúng đắn và xây dựng Nhà nước pháp quyền vững mạnh, Nhà nước của dân, do dân và v́ nhân dân là quan trọng nhất.

Trong quá tŕnh lănh đạo, Đảng ta luôn quán triệt các quan điểm lớn sau đây:

 (1). Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xă hội; trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng sáng tạo, phù hợp với đặc điểm, t́nh h́nh thực tiễn của cách mạng Việt Nam; phản ánh được ư chí và tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. 

(2). Không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, tŕnh độ trí tuệ của toàn Đảng, trước hết là đội ngũ cán bộ lănh đạo chủ chốt ở các cấp; không hoang mang, dao động trong bất cứ t́nh huống nào, kể cả những lúc khó khăn, phức tạp nhất của t́nh h́nh thế giới.

(3). Kiên tŕ thực hiện đường lối đổi mới, kiên quyết đấu tranh chống đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và các khuynh hướng giáo điều, bảo thủ, tŕ trệ hoặc chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc. Phải đổi mới toàn diện nhưng cần có lộ tŕnh và bước đi thích hợp; phải trên cơ sở đổi mới về kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị cho phù hợp.

(4). Trong quá tŕnh xây dựng, hoạch định đường lối, Đảng phải quán triệt và thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các nhiệm vụ lớn cách mạng trong thời kỳ đổi mới là: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xă hội.

Đặc biệt, trong quá tŕnh thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra phải xử lư và giải quyết tốt 8 mối quan hệ lớn sau:

- Quan hệ giữa đổi mới với ổn định và phát triển;

- Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị;

- Quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xă hội chủ nghĩa;

- Quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất;

- Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xă hội;

- Quan hệ giữa xây dựng CNXH với bảo vệ Tổ quốc XHCN;

- Quan hệ giữa độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế;

- Quan hệ giữa Đảng lănh đạo, Nhà nước quản lư và nhân dân làm chủ.

(5). Là Đảng duy nhất cầm quyền, Đảng lănh đạo xă hội thông qua Nhà nước. Đảng phải xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, v́ dân trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Thường xuyên đổi mới phương thức lănh đạo đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xă hội, huy động sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng đề ra.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

1. Quá tŕnh cách mạng của Đảng

Từ ngày thành lập (3/2/1930) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đă lănh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cánh mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam), Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đưa dân tộc Việt Nam tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, năm 1954, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và làm tṛn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, đưa đất nước tiếp tục quá độ lên chủ nghĩa xă hội.

Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam đă giành được trong hơn 86 năm qua đều gắn liền với quá tŕnh xây dựng, trưởng thành và phát triển của Đảng. Dưới sự lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đă trở thành một quốc gia độc lập, tư do, phát triển theo con đường xă hội chủ nghĩa; đất nước đă thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; có quan hệ quốc tế rộng răi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.

2. Bản chất, mục đích và nền tảng tư tưởng của Đảng

Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng đă xác định như sau:

- Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.

- Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam hoà b́nh, độc lập, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xă hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.

- Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

3. Nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng

- Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ư chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lănh đạo, cá nhân phụ trách, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê b́nh và phê b́nh; đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng; Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của ḿnh; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

- Đảng Cộng sản Việt Nam lănh đạo Nhà nước và xă hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, vận động; bằng công tác tổ chức, cán bộ và kiểm tra; bằng tổ chức của đảng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

- Đảng thống nhất lănh đạo công tác cán bộ và quản lư đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị; Đảng giới thiệu những đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực tham gia trong các cơ quan lănh đạo của hệ thống chính trị. Đảng tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân và dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng..

4. Hệ thống tổ chức của Đảng và đảng viên hiện nay

Để bảo đảm sự lănh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và xă hội, các tổ chức đảng được thành lập ở mọi nơi, ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực hoạt động của đời sống xă hội từ trung ương đến địa phương và cơ sở. Hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng được thành lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính 4 cấp của Nhà nước gồm: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở. Ngoài ra, tổ chức đảng c̣n được lập ra ở những nơi có đặc điểm riêng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

Hiện nay, toàn Đảng có 68 đảng bộ trực thuộc Trung ương, gồm: 58 đảng bộ tỉnh, 05 đảng bộ thành phố, 05 đảng bộ trực thuộc Trung ương (Đảng bộ Quân đội, Đảng bộ Công an, 02 Đảng bộ Khối và Đảng bộ Ngoài nước). Có hơn 1.300 đảng bộ cấp trên cơ sở (gần 700 đảng bộ huyện, quận, thị xă, thành phố thuộc tỉnh và hơn 600 đảng bộ tương đương là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng).

Tính đến 31/12/2015, toàn Đảng có gần 57.000 tổ chức cơ sở đảng, với tổng số hơn 4,5 triệu đảng viên. Có 5 loại h́nh tổ chức cơ sở đảng cơ bản là: Tổ chức cơ sở đảng xă, phường, thị trấn; tổ chức cơ sở đảng trong các loại h́nh doanh nghiệp; tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính; tổ chức cơ sở đảng trong các đơn vị sự nghiệp và tổ chức cơ sở đảng trong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang.

5. Bài học kinh nghiệm qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016)

Trên cơ sở tổng kết 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Đảng ta đă rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn sau đây:

          Một là, trong quá tŕnh đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xă hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đây là bài học về Sự kiên định và sáng tạo.

          Hai là, đổi mới phải v́ lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai tṛ làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân. Đây là bài học về phát huy sức mạnh của Nhân dân.

          Ba là, đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp, phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Đây là bài học về đổi mới toàn diện, đồng bộ và xuất phát từ thực tiễn.

          Bốn là, phải đặt lợi ích của quốc gia – dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở b́nh đẳng, cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xă hội chủ nghĩa. Đây là bài học về lợi ích dân tộc và phát huy sức mạnh tổng hợp.

          Năm là, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng nâng cao năng lực lănh đạo và sức chiến đấu của Đảng; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xă hội và của cả hệ thống chính trị; tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Đây là bài học về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.  

 

Phần thứ hai

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY

I. T̀NH H̀NH CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG NHIỆM KỲ 2010 - 2015

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đă đánh giá về công tác xây dựng Đảng hiện nay như sau:

1. Ưu điểm

- Công tác xây dựng Đảng về chính trị trước t́nh h́nh mới tiếp tục được coi trọng. Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xă hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; chống giáo điều, bảo thủ, tŕ trệ hoặc chủ quan, nóng vội.

- Công tác tư tưởng được coi trọng và tăng cường, góp phần tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xă hội. Tích cực đấu tranh với âm mưu và hoạt động “Diễn biến ḥa b́nh” của các thế lực thù địch; chủ động pḥng ngừa, đấu tranh, phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lư luận được quan tâm và đẩy mạnh hơn. Coi trọng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đạt kết quả bước đầu quan trọng.

- Tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xă hội tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn theo yêu cầu, nhiệm vụ mới. Công tác xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, việc phát triển và nâng cao chất lượng đảng viên đă được các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung chỉ đạo thực hiện, nhất là đối với những tổ chức cơ sở đảng yếu kém.

- Nhiều chủ trương, nguyên tắc, quan điểm, giải pháp lớn về công tác cán bộ được thể chế, cụ thể hóa bằng các quy định, quy chế, quy tŕnh bảo đảm dân chủ, chặt chẽ hơn. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong t́nh h́nh mới.

- Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện và đạt nhiều kết quả; công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng được tăng cường, có hiệu lực, hiệu quả hơn. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp được phát hiện, điều tra, xử lư nghiêm minh, được dư luận đồng t́nh, ủng hộ.

- Công tác dân vận được quan tâm và có bước đổi mới cùng với việc ban hành, thực hiện nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xă hội; nâng cao đời sống vật chất của nhân dân.

- Phương thức lănh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới, bảo đảm giữ vững vai tṛ lănh đạo của Đảng, đồng thời phát huy vai tṛ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là vai tṛ của Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc.

Với những kết quả quan trọng nêu trên, Đảng ta giữ vững được bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xă hội, kiên định đường lối đổi mới, xứng đáng là lực lượng lănh đạo Nhà nước và xă hội.

2. Hạn chế, khuyết điểm:

- Năng lực lănh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng c̣n thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu; công tác quản lư, giáo dục rèn luyện đảng viên ở một số nơi chưa được quan tâm thường xuyên, chất lượng sinh hoạt đảng chưa cao, tự phê b́nh và phê b́nh yếu. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa đều, chưa đi vào chiều sâu; một số nơi thực hiện c̣n h́nh thức.

- Chậm khắc phục những hạn chế của công tác tư tưởng như thiếu sắc bén, chưa thuyết phục. Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến ḥa b́nh” của các thế lực thù địch; pḥng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” c̣n bị động, hiệu quả chưa cao. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lư luận chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới.

- Tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị c̣n cồng kềnh, nhiều tầng nấc; chức năng, nhiệm vụ một số tổ chức c̣n chồng chéo, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. T́nh trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp,… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi.

- Chưa nắm và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay, trong khi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có xu hướng diễn biến phức tạp trong Đảng, trong hệ thống chính trị và trong xă hội.

- Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và xử lư tổ chức đảng, đảng viên vi phạm chưa cao, chưa đủ sức góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lăng phí, tiêu cực trong nội bộ Đảng. Chất lượng, hiệu quả công tác pḥng, chống tham nhũng, lăng phí chưa đạt mục tiêu, yêu cầu. Tham nhũng, lăng phí vẫn c̣n nghiêm trọng, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp.

- Đổi mới phương thức lănh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xă hội c̣n chậm, nhất là việc cụ thể hóa phương thức lănh đạo của Đảng đă được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011).

Những hạn chế, khuyết điểm trên đây làm cho Đảng ta chưa thật sự trong sạch, vững mạnh, làm giảm ḷng tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

II. T̀NH H̀NH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 (Khóa XI)

Nhằm cụ thể hoá thực hiện Nghị quyết Đại hội XI về công tác xây dựng Đảng, Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) đă ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Đây là một Nghị quyết về xây dựng Đảng được Trung ương thảo luận và thống nhất rất cao. Nghị quyết của Trung ương đă chọn đúng và trúng những vấn đề cấp bách nhất của công tác xây dựng Đảng hiện nay; đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân.

1. Sở dĩ Trung ương phải ban hành Nghị quyết này, v́ 4 lư do sau:

(1). Vai tṛ lănh đạo của Đảng và công tác xây dựng Đảng luôn luôn có ư nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng. Đây là bài học lớn, là kết luận sâu sắc được rút ra trong suốt quá tŕnh cách mạng hơn 80 năm của Đảng, đồng thời cũng là lư luận khoa học và kinh nghiệm thực tiễn của nhiều đảng, nhiều nước trên thế giới. Trong Cương lĩnh của Đảng đă khẳng định: “Sự lănh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Đây là vấn đề trước kia đă như vậy, hiện nay như vậy, và sau này cũng như vậy.

(2). Yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường, định hướng xă hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng là nhiệm vụ rất to lớn, nặng nề và rất khó khăn. Nhiệm vụ đó đ̣i hỏi Đảng phải nâng tầm lănh đạo cao hơn nữa, nâng sức chiến đấu mạnh hơn nữa mới đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ.

(3). Trong quá tŕnh lănh đạo cách mạng, bên cạnh những mặt tích cực, bản chất và truyền thống tốt đẹp được phát huy, bản thân Đảng cũng c̣n nhiều khuyết điểm, yếu kém chậm được khắc phục. Cụ thể là:

- Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đất nước phát triển kinh tế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế, thực tế đă có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, thể hiện ở chỗ: phai nhạt lư tưởng, không kiên định con đường XHCN, dao động, thiếu niềm tin; sa sút ư chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, thậm chí c̣n phụ hoạ với những quan điểm sai trái; không c̣n ư thức hết ḷng, hết sức phục vụ nhân dân, không làm tṛn chức trách, bổn phận được giao; sống ích kỷ, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, lăng phí, lợi ích nhóm; t́nh trạng bè phái, cục bộ, mất đoàn kết và phong cách quan liêu, xa dân, vô cảm trước những  khó khăn, bức xúc của dân. T́nh h́nh đó đă làm xói ṃn và suy giảm ḷng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng đến uy tín và vai tṛ lănh đạo của Đảng.

- Trước yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới, việc xây dựng đội ngũ cán bộ lănh đạo, quản lư các cấp có đủ phẩm chất, năng lực có ư nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là ở cấp Trung ương. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được chỉ đạo và xây dựng một cách cơ bản nên dẫn đến t́nh trạng hẫng hụt, chắp vá, không đồng bộ và thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ.

- Việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức của Đảng không được chặt chẽ và c̣n bị vi phạm, đă dẫn đến t́nh trạng không rơ ràng, rành mạch về thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Nguyên tắc “tập thể lănh đạo, cá nhân phụ trách” ở nhiều nơi rơi vào h́nh thức do không xác định rơ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân. Do đó, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt t́nh, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; tạo kẽ hở cho các việc làm tắc trách, tŕ trệ, hoặc lạm dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích cá nhân.

Những khuyết điểm, yếu kém của công tác xây dựng Đảng nêu trên: xét về tính chất là nghiêm trọng, kéo dài; về phạm vi là tương đối phổ biến ở các cấp, các ngành; về xu hướng là diễn biến phức tạp, chưa ngăn chặn, đẩy lùi được; về hậu quả là làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng; làm suy giảm uy tín, vai tṛ, sức chiến đấu và năng lực lănh đạo của Đảng, Nhà nước. Những khuyết điểm đó, nếu không được khắc phục kịp thời sẽ là thách thức đối với vai tṛ lănh đạo của Đảng, sự tồn vong của Đảng và chế độ.

(4). Sự chống phá điên cuồng, quyết liệt của các thế lực thù địch, bằng chiến lược “Diễn biến hoà b́nh” rất tinh vi, thâm độc và xảo quyệt. Mục tiêu của chúng là làm cho nội bộ Đảng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và cuối cùng là nhằm xoá bỏ vai tṛ lănh đạo của Đảng và chế độ xă hội chủ nghĩa ở nước ta.

Như vậy, trong bối cảnh và t́nh h́nh nêu trên, nếu Đảng không giữ vững được bản chất cách mạng và khoa học của ḿnh, không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ư chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ th́ Đảng không thể đứng vững và đủ sức để lănh đạo đưa đất nước đi lên.

2. Nội dung, mục tiêu và phương châm thực hiện Nghị quyết

2.1. Nội dung Nghị quyết: Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng t́nh h́nh Đảng và công tác xây dựng Đảng, Nghị quyết Trung ương 4 đă chỉ ra 3 vấn đề cấp bách nhất của công tác xây dựng Đảng hiện nay là: (1). Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi t́nh trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lănh đạo, quản lư các cấp. (2). Xây dựng đội ngũ cán bộ lănh đạo, quản lư các cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. (3). Xác định rơ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, lănh đạo cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lănh đạo của Đảng. Trong 3 vấn đề trên, Nghị quyết xác định vấn đề thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất.

2.2. Mục tiêu của Nghị quyết:

Tạo được sự chuyển biến rơ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, nhằm xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lănh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

2.3. Phương châm tiến hành:

(1). Phải nh́n thẳng vào những khuyết điểm, yếu kém, không nể nang, né tránh và đề ra các giải pháp sửa chữa khuyết điểm. Những cán bộ, đảng viên có khuyết điểm nhưng tự giác, thành khẩn nhận khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa th́ có thể xem xét, giảm nhẹ hoặc không xử lư với phương châm “trị bệnh cứu người”; những người có khuyết điểm nhưng không tự giác, thành khẩn th́ phải xử lư nghiêm khắc theo quy định của Điều lệ Đảng.

(2). Phải có các giải pháp đồng bộ, khả thi và tiến hành có trọng tâm, trọng điểm; kết hợp “chống để xây” và “xây để chống”; thực hiện nói đi đôi với làm; tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, tŕ trệ nhất;

(3). Phải b́nh tĩnh, tỉnh táo, không nóng vội, cực đoan; đồng thời không để rơi vào tŕ trệ, h́nh thức; giữ đúng nguyên tắc, không để các thế lực thù địch, cơ hội lợi dụng, kích động, xuyên tạc, đả kích, gây rối nội bộ.

3. Giải pháp thực hiện Nghị quyết

Để giải quyết 03 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng nêu trên, Nghị quyết Trung ương đề ra 04 nhóm giải pháp đồng bộ để thực hiện là:

(1). Nhóm giải pháp về tự phê b́nh và phê b́nh, nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cấp trên;

(2). Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng;

(3). Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách;

(4). Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị tư tưởng.

Trong 04 Nhóm giải pháp trên, th́ nhóm giải pháp về tự phê b́nh và phê b́nh, nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cấp trên có ư nghĩa đặc biệt quan trọng đối với kết quả thực hiện Nghị quyết.

4. T́nh h́nh và kết quả thực hiện Nghị quyết

4.1. Kết quả đạt được và nguyên nhân

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đánh giá: Qua triển khai học tập và tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng, đă đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Các cấp ủy, tổ chức đảng đă nhận diện rơ hơn, sâu sắc hơn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; bước đầu ngăn, khắc phục được một số biểu hiện suy thoái trong Đảng; có tác dụng cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, pḥng ngừa sai phạm; khắc phục được một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ và việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lănh đạo, cá nhân phụ trách. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ được đẩy mạnh hơn.

Những kết quả đạt được thể hiện trên các nội dung chính sau đây:

Một là, thông qua việc tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên đă nhận thức sâu sắc hơn ư nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng; thấy rơ hơn tính cấp bách và sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh; từ đó xác định ư thức trách nhiệm và đề cao tinh thần tự giác trong việc thực hiện Nghị quyết.

Hai là, qua chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm tự phê b́nh và phê b́nh; lắng nghe và tiếp thu ư kiến góp ư của các cấp ủy, tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên và nhân dân, các cấp ủy, tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên đă nhận diện rơ hơn những biểu hiện cụ thể của t́nh trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên; tự nh́n nhận, soi xét lại bản thân, thấy rơ những ưu điểm để phát huy, khuyết điểm để khắc phục; đồng thời phân tích làm rơ nguyên nhân, nhất là những nguyên nhân chủ quan của khuyết điểm, yếu kém để đề ra kế hoạch, các giải pháp sửa chữa, khắc phục khuyết điểm.

Ba là, thông qua việc kiểm điểm tự phê b́nh và phê b́nh tập thể, cá nhân ở các cấp, kết hợp với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước và công tác điều tra, truy tố, xét xử công khai, nghiêm khắc đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước đă có tác dụng: cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe và pḥng ngừa sai phạm; có tác dụng siết lại kỷ cương, kỷ luật và tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; góp phần đấu tranh, ngăn chặn một bước t́nh trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lăng phí và làm trong sạch Đảng. Trong nhiệm kỳ Đại hội khóa XI, toàn Đảng đă xử lư kỷ luật bằng các h́nh thức trên 74.000 đảng viên, trong đó có cả những đảng viên là cán bộ, lănh đạo ở các cấp và xóa tên, cho ra khỏi Đảng hàng ngh́n trường hợp khác, trong đó có nhiều đảng viên phải truy tố trước pháp luật.

 Bốn là, sau kiểm điểm tự phê b́nh và phê b́nh, các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên đă xây dựng kế hoạch sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, đem lại một số kết quả tích cực trên cả ba vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Quá tŕnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 được kết hợp chặt chẽ với đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; với thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt và tập trung giải quyết những vụ việc nổi cộm, phức tạp, kéo dài ở các địa phương, cơ quan, đơn vị, gốp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với việc thực hiện Nghị quyết.

Năm là, trong bối cảnh đất nước có nhiều khó khăn và thách thức gay gắt; t́nh h́nh thế giới, khu vực có những diễn biến nhanh và phức tạp, những chuyển biến và kết quả bước đầu của công tác xây dựng Đảng đă góp phần giữ vững ổn định chính trị - xă hội; củng cố tiềm lực quốc pḥng, an ninh; bảo đảm an sinh xă hội và thúc đẩy thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xă hội của đất nước trong những năm vừa qua.

 Có được những kết quả trên là do:

- Việc ban hành Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng là một chủ trương đúng đắn, kịp thời, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, được dư luận trong Đảng, trong xă hội đồng t́nh ủng hộ, tích cực tham gia.

- Việc thực hiện Nghị quyết được Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát, bài bản, với quyết tâm chính trị cao và có một số đổi mới về nội dung, quy tŕnh, cách làm đă đem lại hiệu quả thiết thực. Sự gương mẫu, nghiêm túc, tự giác trong kiểm điểm tự phê b́nh và phê b́nh của tập thể, cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư là tấm gương để cán bộ, đảng viên học tập, noi theo.

4.2. Hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân

Một là, trong quá tŕnh triển khai thực hiện Nghị quyết, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về việc kiểm điểm tự phê b́nh và phê b́nh theo Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng đảng; nhiều cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị góp ư kiến kiểm điểm cho cấp trên, nhất là góp ư cho cá nhân c̣n nể nang, e ngại nên chất lượng hạn chế. T́nh trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên tuy đă được đấu tranh, ngăn chặn một bước, nhưng vẫn c̣n đang tồn tại và chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, thậm chí có mặt c̣n phát triển tinh vi, phức tạp hơn trước.

Hai là, quá tŕnh chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm tự phê b́nh và phê b́nh tập thể, cá nhân, một số cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lănh đạo, quản lư ở các cấp chưa nh́n nhận đúng mức khuyết điểm và trách nhiệm của ḿnh trước những hạn chế, khuyết điểm của tập thể; một số vấn đề dư luận quan tâm như t́nh trạng chạy chức, chạy quyền, chạy việc, chạy tội, lợi ích nhóm…, vẫn chưa làm rơ được thực chất và mức độ nghiêm trọng của t́nh h́nh, chưa chỉ ra được địa chỉ cụ thể và trách nhiệm của tập thể, cá nhân.

Ba là, sau kiểm điểm tự phê b́nh và phê b́nh, một số nơi chậm đề ra kế hoạch, biện pháp sửa chữa, khắc phục khuyết điểm hoặc xây dựng kế hoạch c̣n chung chung, thiếu cụ thể; việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch sửa chữa, khắc phục khuyết điểm ở một số nơi chưa đồng bộ, thiếu quyết liệt và kết quả c̣n hạn chế. Việc kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 khi đi vào thường xuyên, gắn với kiểm điểm cuối năm ở nhiều nơi có xu hướng lỏng lẻo; t́nh trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bệnh thành tích c̣n xảy ra ở nhiều nơi; chưa đi sâu phân tích, làm rơ nguyên nhân của những khuyết điểm và xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan.

 Bốn là, việc nghiên cứu, ban hành một số quy định, quy chế, hướng dẫn để cụ thể hoá thực hiện Nghị quyết c̣n chậm và chưa thật đồng bộ. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa coi trọng công tác kiểm tra, đôn đốc việc xây dựng, thực hiện kế hoạch sửa chữa, khắc phục khuyết điểm. Việc xem xét, xử lư một số trường hợp vi phạm khuyết điểm chưa kịp thời, nghiêm khắc; một số vụ việc nổi cộm, phức tạp, gây bức xúc trong Đảng và trong xă hội giải quyết c̣n chậm so với yêu cầu.

Năm là, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở nhiều nơi c̣n h́nh thức, mang tính phong trào, chưa trở thành công việc cụ thể hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên. Công tác thông tin, tuyên truyền về thực hiện Nghị quyết c̣n hạn chế, chưa mạnh mẽ và có lúc thiếu kịp thời.

Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm trên là do:

- Những vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay là những vấn đề lớn, khó và phức tạp, trong đó có những vấn đề đă tồn đọng kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, đ̣i hỏi phải có thời gian mới có thể khắc phục, giải quyết được.

- Công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thường xuyên, chặt chẽ và thiếu kiên quyết; một số vụ việc phức tạp, nổi cộm c̣n để kéo dài, chưa được xử lư kịp thời, dứt điểm.

- Một bộ phận cán bộ, đảng viên tính chiến đấu yếu, c̣n nể nang, né tránh; một số đảng viên chưa tự giác thực hiện, thậm chí c̣n nghi ngờ, thiếu tin vào kết quả thực hiện Nghị quyết.

5. Một số kinh nghiệm rút ra qua thực hiện Nghị quyết

Qua thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, bước đầu rút ra một số kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện Nghị quyết như sau:

(1) Việc xây dựng và cụ thể hoá Nghị quyết được Bộ Chính trị, Ban Bí thư tập trung chỉ đạo khẩn trương, nghiêm túc, có sự đổi mới về nội dung và cách làm. Nghị quyết không đề cập toàn diện các mặt của công tác xây dựng Đảng, chỉ tập trung vào 03 vấn đề cấp bách nhất hiện nay để thực hiện. Đồng thời, ban hành sớm và khá đồng bộ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện Nghị quyết ở các cấp.

(2) Đă chỉ đạo chặt chẽ, nghiêm túc và dứt điểm việc học tập, quán triệt Nghị quyết, tạo sự thống nhất và nâng cao nhận thức, hành động trong toàn Đảng. Bộ Chính trị tổ chức hội nghị cán bộ toàn quốc để nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết với quy mô lớn nhất từ trước đến nay và tổ chức hai hội nghị với các đồng chí nguyên là cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước đă nghỉ hưu, tạo sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng. Do vậy, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên thấy rơ hơn trách nhiệm, bổn phận của ḿnh đối với vận mệnh của Đảng, của dân tộc, đề cao ư thức tự giác, tinh thần trách nhiệm trong thực hiện Nghị quyết.

(3) Bộ Chính trị, Ban Bí thư đă tập trung chỉ đạo việc nghiên cứu, cụ thể hoá, thể chế hoá nội dung Nghị quyết thành các chương tŕnh, kế hoạch hoạt động và ban hành các quy định, quyết định, quy chế, hướng dẫn để thực hiện; đồng thời, triển khai thực hiện khá toàn diện, đồng bộ các nhóm giải pháp mà Nghị quyết đề ra. Chỉ đạo chặt chẽ, cụ thể và có những đổi mới về nội dung, quy tŕnh, cách làm trong quá tŕnh chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm, tự phê b́nh và phê b́nh. Quá tŕnh chuẩn bị kiểm điểm, cấp ủy lấy ư kiến góp ư của các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc, các ban, ngành, đoàn thể và các đồng chí nguyên là cán bộ lănh đạo, quản lư chủ chốt cùng cấp bằng các h́nh thức phù hợp. Việc kiểm điểm tiến hành từ trên xuống dưới, tập thể trước, cá nhân sau và phát huy vai tṛ gương mẫu của cấp trên, người đứng đầu. Cấp ủy cấp trên rà soát, đánh giá và gợi ư nội dung kiểm điểm sâu đối với những tập thể, cá nhân có vấn đề nổi cộm; thành lập các Tổ Công tác của cấp ủy cấp trên chỉ đạo, dự và theo dơi việc kiểm điểm, nhất là ở những nơi có vấn đề nổi cộm được cấp trên gợi ư kiểm điểm...

(4) Sau kiểm điểm, cấp ủy có kết luận bằng văn bản về những ưu, khuyết điểm của tập thể và mỗi cá nhân; báo cáo kết quả kiểm điểm với cấp ủy cấp trên và tŕnh hội nghị cấp ủy hoặc hội nghị cán bộ chủ chốt cùng cấp để đánh giá kết quả theo các tiêu chí đă quy định. Trong quá tŕnh kiểm điểm, những vấn đề nào đă rơ th́ kết luận và chỉ đạo sửa chữa, khắc phục ngay; vấn đề nào chưa rơ th́ cấp ủy giao cho cơ quan chức năng thẩm tra, xác minh, làm rơ trước khi kết luận; tập thể, cá nhân nào kiểm điểm chưa đạt yêu cầu th́ phải tiến hành kiểm điểm bổ sung hoặc kiểm điểm lại.

(5) Cấp ủy thông báo kết quả kiểm điểm và phổ biến, rút kinh nghiệm cho cấp dưới; thông báo kết quả tiếp thu ư kiến góp ư kiểm điểm đối với những tập thể, cá nhân đă đóng góp ư kiến cho tập thể và cá nhân trước kiểm điểm. Sau kiểm điểm của cấp trên, cấp ủy tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt để thông báo kết quả kiểm điểm, phổ biến kinh nghiệm, cách làm để cấp dưới học tập, noi theo. Đồng thời, cấp ủy thông báo kết quả việc tiếp thu những ư kiến góp ư của các tập thể và cá nhân đă góp ư trước khi kiểm điểm bằng các h́nh thức phù hợp.

(6) Trong quá tŕnh triển khai thực hiện Nghị quyết, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy đă thường xuyên chỉ đạo, theo dơi, nắm chắc t́nh h́nh, tiến độ và kết quả thực hiện Nghị quyết; thường xuyên kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện sai sót, lệch lạc ở các cấp; đồng thời, bám sát thực tiễn để kịp thời bổ sung, điều chỉnh các giải pháp cho phù hợp, hiệu quả.

III. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG THỜI GIAN TỚI

1. Phương hướng chung

Để giữ vững và tăng cường vai tṛ lănh đạo của Đảng trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đă xác định: Trong những năm tới, yêu cầu, nhiệm vụ nặng nề của thời kỳ phát triển mới đ̣i hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên tŕ tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lănh đạo cơ quan, đơn vị và cá nhân cán bộ lănh đạo, quản lư các cấp từ Trung ương đến cơ sở phải nghiêm túc, tự giác và có kế hoạch, biện pháp phù hợp để khắc phục, sửa chữa những yếu kém khuyết điểm.

2. Nhiệm vụ và giải pháp

Nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, Đại hội XII của Đảng đă đề ra 10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác xây dựng Đảng, trong đó có 2 nhiệm vụ mới so với Đại hội XI. Cụ thể là:

2.1. Hai nhiệm vụ mới được bổ sung

(1) Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Đại hội XI chưa có mục riêng về công tác dân vận. Xuất phát từ vị trí, vai tṛ  quan trọng của công tác dân vận trong t́nh h́nh mới, Đại hội XII có mục riêng về công tác dân vận nhằm cụ thể hoá thực hiện Hiến pháp năm 2013 về tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân và tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá XI) về “Tăng cường và đổi mới sự lănh đạo của Đảng đối với công tác Dân vận trong t́nh h́nh mới”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; giải quyết kịp thời, hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân. Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lănh đạo, Nhà nước quản lư, nhân dân làm chủ”, nhất là nội dung nhân dân làm chủ và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”.

(2) Đẩy mạnh đấu tranh pḥng, chống tham nhũng, lăng phí

Ở Đại hội XI, công tác đấu tranh pḥng, chống tham nhũng, lăng phí được thể hiện trong nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa. Ở Đại hội XII, vấn đề đấu tranh pḥng, chống tham nhũng, lăng phí được đưa vào nội dung công tác xây dựng Đảng, nhằm tăng cường sự lănh đạo của Đảng và thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng ta về đấu tranh pḥng, chống tham nhũng, lăng phí. Nghị quyết Đại hội XII nêu rơ: Đấu tranh pḥng, chống tham nhũng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đồng thời là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài. Các cấp ủy đảng, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và toàn hệ thống chính trị phải kiên quyết pḥng, chống tham nhũng, lăng phí; xử lư kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lăng phí và bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, lăng phí. Báo cáo đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp mới là: Hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để bảo đảm công tác pḥng, chống tham nhũng, lăng phí có hiệu lực, hiệu quả, nhất là trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao như: quản lư và sử dụng đất đai; khai thác tài nguyên, khoáng sản; thu chi ngân sách và mua sắm tài sản công; thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản. Kiên quyết, kiên tŕ xây dựng cơ chế pḥng ngừa để không thể tham nhũng; cơ chế răn đe, trừng trị để không dám tham nhũng. Quy định rơ việc kê khai, công khai và kiểm tra, xác minh về kê khai thu nhập, tài sản của cán bộ lănh đạo, quản lư ở các cấp để bảo đảm tính công khai, minh bạch.

2.2. Ngoài 2 nhiệm vụ mới, Đại hội XII kế thừa, phát triển 8 nhiệm vụ về xây dựng Đảng của Đại hội XI, nhưng được bổ sung, phát triển hơn. Cụ thể là:

(1). Chú trọng xây dựng Đảng về chính trị.

Đại hội XII bổ sung và nhấn mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp mới là: Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lănh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; bản lĩnh chính trị của Đảng, của các tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên. Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển. Hoàn thiện cơ chế, quy chế và tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc tự phê b́nh, phê b́nh, chất vấn trong các kỳ họp của Ban chấp hành Trung ương, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp. Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả cơ chế phát huy vai tṛ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

(2). Đổi mới công tác tư tưởng, lư luận.

Đại hội XII bổ sung, phát triển và nhấn mạnh là: Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, phù hợp với từng giai đoạn, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, đồng thuận trong xă hội; đẩy mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác Lê - nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng đối tượng theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả. Tiếp tục đổi mới tư duy lư luận; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lư luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lư luận cho hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lư luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lănh đạo, quản lư các cấp.

(3). Tăng cường rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng.

Đây là một nội dung quan trọng để thực hiện mục tiêu “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Việc bổ sung nội dung xây dựng Đảng về đạo đức là vấn đề rất quan trọng trong t́nh h́nh hiện nay nhằm đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi t́nh trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, lăng phí, cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm. Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời, đề ra một số giải pháp mới là: Thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát của tổ chức đảng, giám sát và phản biện xă hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xă hội và của nhân dân về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

(4). Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị.

Đại hội XII tiếp tục phát triển, cụ thể hoá chủ trương của Đại hội XI và nhấn mạnh: Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lănh đạo, chỉ đạo, điều hành; hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; xác định rơ mối quan hệ giữa tập thể lănh đạo với cá nhân phụ trách. Thực hiện chủ trương quản lư biên chế thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị; thực hiện kiêm nhiệm một số chức danh và tinh giản biên chế trong toàn hệ thống chính trị. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn chặn sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương. Nghiên cứu thực hiện thí điểm hợp nhất một số cơ quan đảng và nhà nước tương đồng về chức năng, nhiệm vụ.

(5). Kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên.

Đại hội XII đă bổ sung và chỉ rơ một số nhiệm vụ, giải pháp mới là: Tập trung củng cố, nâng cao năng lực lănh đạo, sức chiến đấu, đổi mới nội dung, h́nh thức, phương pháp, tạo chuyển biến về chất lượng hoạt động của các loại h́nh tổ chức cơ sở đảng, nhất là tổ chức đảng trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Kiện toàn tổ chức của hệ thống chính trị, bảo đảm sự lănh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở. Tổng kết việc thực hiện Quy định của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đảng viên làm kinh tế tư nhân và việc thí điểm kết nạp những người là chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào Đảng. Xây dựng đội ngũ đảng viên thực sự tiền phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, vững vàng trước mọi khó khăn thách thức, phấn đấu cho mục tiêu, lư tưởng cao đẹp của Đảng.

(6). Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Đại hội XII bổ sung, phát triển và nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”; thể chế hóa, cụ thể hóa các nguyên tắc về xây dựng Đảng; tiếp tục ban hành và thực hiện các quy chế, quy định trong công tác cán bộ bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và chặt chẽ giữa các khâu, liên thông giữa các cấp; trong đó có quy chế về việc đánh giá đúng đắn, khách quan đối với cán bộ, để có cơ sở sử dụng, bố trí cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi t́nh trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp. Đại hội đề ra một số giải pháp mới là: Đổi mới bầu cử trong Đảng, phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ để lựa chọn những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm giữ các vị trí lănh đạo, đặc biệt là người đứng đầu. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng người tài. Tăng cường trách nhiệm của cấp ủy, nhất là cấp ủy cơ sở trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ; gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hiện tượng cục bộ, “lợi ích nhóm”. Đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà b́nh” của các thế lực thù địch.

(7). Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Đại hội XII bổ sung, phát triển và nhấn mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp mới là: Tập trung xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; xử lư kịp thời, nghiêm minh tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những hành vi dung túng, bao che cho khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, công khai kết quả xử lư. Tập trung chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước trong việc giữ ǵn phẩm chất đạo đức, lối sống, không để người thân trong gia đ́nh lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Nghiên cứu việc tăng thẩm quyền kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng cho ủy ban kiểm tra các cấp.

(8). Đổi mới phương thức lănh đạo của Đảng.

Đại hội XII bổ sung, phát triển và nhấn mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp mới là: Tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lư luận về đảng cầm quyền, xác định rơ mục đích, phương thức, nội dung và điều kiện cầm quyền; vấn đề phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền; các nguy cơ cần lưu ư pḥng ngừa đối với đảng cầm quyền. Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lănh đạo của Đảng đă được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) bằng những quy chế, quy định, quy tŕnh cụ thể. Quy định rơ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của ḿnh. Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền; có cơ chế để các địa phương phát huy quyền chủ động, sáng tạo, gắn với đề cao trách nhiệm, đồng thời bảo đảm sự lănh đạo, quản lư thống nhất của Trung ương.

3. Sáu nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng

Cùng với việc đề ra 10 nhiệm vụ, giải pháp lớn về công tác xây dựng Đảng, Đại hội XII xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm trong cả nhiệm kỳ là:

(1). Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược;

          (2). Xây dựng tổ chức bộ máy của các tổ chức trong hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh pḥng, chống tham nhũng, lăng phí, quan liêu;

          (3). Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng và tăng năng suất lao động để tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thực hiện có hiệu quả 03 khâu đột phá chiến lược, cơ cấu lại tổng thể, đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô h́nh tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, gắn với phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Trước mắt, tập trung giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước, xử lư nợ xấu, bảo đảm an toàn nợ công.

          (4). Bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lănh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường ḥa b́nh, ổn định để phát triển đất nước. Mở rộng quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện có hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

          (5). Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của Nhân dân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.

          (6). Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xă hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Giải quyết tốt những vấn đề xă hội bức xúc, bảo đảm an sinh và phúc lợi xă hội.

Trong 6 nhiệm vụ trọng tâm nêu trên th́ nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất và thứ hai là về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và đă được Ban Chấp hành Trung ương cụ thể hoá thành 3 đề án lớn trong Chương tŕnh làm việc toàn khóa để tŕnh ra các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương là: (1) Đề án: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ (tŕnh Hội nghị TW 4). (2) Đề án: Tiếp tục đổi mới phương thức lănh đạo của Đảng, gắn với xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh pḥng, chống tham nhũng, lăng phí, quan liêu (tŕnh Hội nghị TW 6). (3). Đề án: Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ (tŕnh Hội nghị TW 7).

Phần thứ ba

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ HIỆN NAY

I. MỘT SỐ KẾT QUẢ VỀ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CÁN BỘ

Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đă ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Chiến lược cán bộ đă xác định phương hướng cơ bản, các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp lớn về xây dựng đội ngũ cán bộ đến năm 2020.

Sau hơn 10 năm thực hiện Chiến lược cán bộ, Hội nghị Trung ương 9 (khoá X, năm 2009), Trung ương đánh giá về đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ như sau:

1. Về xây dựng đội ngũ cán bộ

1.1. Mặt mạnh và ưu điểm

(1). Đa số cán bộ, công chức, viên chức phấn khởi và tin tưởng vào thành công của công cuộc đổi mới; kiên định mục tiêu, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đă lựa chọn; tham gia tích cực vào quá tŕnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Năng lực, tŕnh độ lănh đạo, quản lư kinh tế - xă hội có tiến bộ rơ; có khả năng tiếp cận và tích luỹ đựơc nhiều kinh nghiệm trong điều kiện mới; năng động, sáng tạo trong thực hiện quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, đóng góp xứng đáng vào thành công của công cuộc đổi mới đất nước.

(2). Đội ngũ cán bộ được tăng cường cả về số lượng và chất lượng; tŕnh độ lănh đạo, quản lư, chuyên môn, nghiệp vụ được nâng lên Cơ cấu đội ngũ cán bộ ngày càng hợp lư hơn; tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ ở một số ngành, một số lĩnh vực tăng khá.

(3). Về cơ bản đă khắc phục được những biểu hiện mơ hồ, dao động về lư tưởng của một bộ phận cán bộ do tác động của sự sụp đổ mô h́nh CNXH ở Liên xô và các nước Đông Âu trong những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX và sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, định hướng xă hội chủ nghĩa. Số đông cán bộ vẫn giữ được phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó, gần gũi với nhân dân.

1.2. Mặt yếu kém, khuyết điểm

- T́nh trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, thoái hoá biến chất, quan liêu, tham nhũng, lăng phí, thiếu trách nhiệm, thiếu tự giác rèn luyện, phấn đấu, thiếu tinh thần đồng chí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn, xử lư kịp thời. Một số ít cán bộ có biểu hiện bất măn, suy giảm niềm tin, nói và làm trái quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc, vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu trong xă hội.

- Chất lượng đội ngũ cán bộ vẫn c̣n nhiều yếu kém, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Cơ cấu đội ngũ cán bộ vẫn mất cân đối giữa các ngành nghề, địa bàn, lĩnh vực; tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ xuất thân từ công nhân chưa đạt yêu cầu. Việc chuyển tiếp giữa các thế hệ cán bộ lănh đạo chưa được chuẩn bị chu đáo; thiếu cán bộ lănh đạo, quản lư giỏi, cán bộ đầu ngành, cán bộ có tŕnh độ cao. Nhiều cán bộ thích làm việc ở các cơ quan nhà nước, ngại làm việc trong lĩnh vực công tác đảng, đoàn thể.

Đánh giá tổng quát: Qua thực hiện Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ ở nước ta có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt, đă tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và chủ động hội nhập quốc tế. Số đông cán bộ giữ vững được bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân. Công tác cán bộ đă bám sát nhiệm vụ chính trị và thể chế hoá, cụ thể hoá được nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp lớn đề ra trong Chiến lược cán bộ. Nội dung, phương pháp, cách làm có đổi mới, tiến bộ; dân chủ, công khai được mở rộng hơn; nguyên tắc Đảng thống nhất lănh đạo công tác cán bộ và quản lư đội ngũ cán bộ được giữ vững.

Tuy nhiên, nhiều khuyết điểm yếu kém trong công tác cán bộ chậm được khắc phục; mới tập trung nhiều vào đối tượng cán bộ lănh đạo, quản lư, dẫn đến sự không đồng bộ giữa các cấp, các ngành, các lĩnh vực; giữa cán bộ lănh đạo, quản lư với cán bộ tham mưu, cán bộ khoa học và chuyên gia; giữa cán bộ Đảng, đoàn thể với cán bộ trong cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang, tạo tâm lư khép kín trong từng ngành, địa phương.

Những yếu kém, khuyết điểm nêu trên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là do công tác giáo dục, bồi dưỡng về nhận thức, lư tưởng, đạo đức cho cán bộ, đảng viên c̣n hạn chế; công tác quản lư, kiểm tra, bố trí, sử dụng và thực hiện một số chính sách đối với cán bộ c̣n nhiều bất cập. Chưa có chính sách thu hút và tạo nguồn phát triển cán bộ; thiếu cơ chế phát hiện, tuyển chọn, đào tạo và sử dụng những người có đức, có tài. Nhiều cơ chế chính sách chậm đổi mới, làm suy giảm niềm tin và sự phấn đấu của cán bộ.

2. Về công tác cán bộ

2.1. Ưu điểm và kết quả đạt được

(1). Đảng và Nhà nước đă thể chế hoá, cụ thể hoá một bước nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp lớn về công tác cán bộ mà Chiến lựơc cán bộ đề ra thành các quy định, quy chế… để thực hiện; Ban Tổ chức Trung ương và Ủy ban kiểm tra Trung ương ban hành các văn bản hướng dẫn để thực hiện. Quốc hội đă ban hành Luật cán bộ, công chức, viên chức; Chính phủ đă ban hành các quyết định, quy định về chế độ, chính sách quản lư, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ.

(2). Công tác cán bộ đă bám sát nhiệm vụ chính trị và yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới; đă triển khai tương đối đồng bộ các khâu của công tác cán bộ, trong đó công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lănh đạo, quản lư có những chuyển biến rơ rệt.

(3). Nội dung, phương pháp, cách làm có đổi mới, tiến bộ; dân chủ, công khai trong công tác cán bộ được mở rộng hơn trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lănh đạo công tác cán bộ và quản lư đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời đề cao trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và người đứng đầu các tổ chức đó.

2.2. Hạn chế, khuyết điểm

(1). Nhiều khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ chậm được khắc phục. Chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy tŕnh đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Thiếu cơ chế để phát huy dân chủ, sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ, thay thế kịp thời những cán bộ yếu kém, tŕ trệ. Chưa có chính sách để thu hút và trọng dụng nhân tài. Công tác cán bộ chưa góp phần đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực.

(2). Trong lănh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chưa quán triệt đầy đủ quan điểm công tác cán bộ là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng, dẫn đến thiếu tầm chiến lược. Việc bố trí, sử dụng cán bộ mới chú ư đến yêu cầu nhiệm vụ trước mắt, ít quan tâm đào tạo cán bộ cho lâu dài; chậm khắc phục t́nh trạng cục bộ, khép kín, hẫng hụt cán bộ ở nhiều ngành, địa phương. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu địa phương, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức.

(3). Môi trường làm việc của cán bộ chưa tạo được động lực để khuyến khích, thu hút, phát huy năng lực, sự cống hiến của cán bộ; chưa cổ vũ ư chí phấn đấu vươn lên, sự gắn bó mật thiết của cán bộ đối với công việc, với cơ quan, với hệ thống chính trị. Nhận thức và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không đầy đủ, không rơ trách nhiệm cá nhân.

Nh́n chung, việc đổi mới công tác cán bộ chưa đồng bộ, toàn diện và c̣n chậm so với đổi mới kinh tế - xă hội.

 3. Việc thực hiện các khâu của công tác cán bộ

 3.1. Về đánh giá cán bộ

Đánh giá cán bộ là khâu tiền đề rất quan trọng, có liên quan đến tất cả các khâu của công tác cán bộ. Chỉ có đánh giá đúng cán bộ mới làm cơ sở cho việc tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm và thực hiện chế độ, chính sách cán bộ.

- Để thực hiện Chiến lược cán bộ, Bộ Chính trị (khoá IX) đă ban hành Quy chế đánh giá cán bộ (Quy chế 50-QĐ/TW ngày 03/5/2002); Ban Tổ chức Trung ương đă ban hành Danh mục chức danh gốc và tiêu chuẩn chung một số chức danh cán bộ công chức cơ quan Đảng, đoàn thể (Quyết định 450-QĐ/TCTW ngày 22/12/1998).

- Căn cứ vào quy định, hướng dẫn của Trung ương, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng đă cụ thể hoá tiêu chuẩn đối với từng loại cán bộ, xây dựng được tiêu chuẩn chức danh cán bộ cho ngành, địa phương, đơn vị để làm cơ sở đánh giá cán bộ. Việc đánh giá cán bộ đă thực hiện theo quy tŕnh, quy chế, công khai, bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lănh đạo công tác cán bộ và quản lư đội ngũ cán bộ. Diện lấy thông tin về cán bộ mở rộng hơn, một số nơi có cơ chế để nhân dân tham gia nhận xét, đánh giá cán bộ nên việc đánh giá cán bộ có hiệu quả, thực chất hơn.

Tuy nhiên, đánh giá cán bộ vẫn là khâu khó và yếu nhất hiện nay, khó nhất là đánh giá cái “tâm”, cái “tầm” và bản lĩnh chính trị của cán bộ. Đánh giá cán bộ vẫn c̣n h́nh thức, chưa phản ánh đúng được thực chất cán bộ; chưa lấy hiệu quả công việc là thước đo chủ yếu để đánh giá cán bộ; c̣n cảm tính, xuê xoa, chiếu lệ. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ nắm không chắc cán bộ, không hiểu sâu các mối quan hệ của bản thân, gia đ́nh cán bộ, dẫn đến nhận xét, đánh giá cán bộ chưa khách quan, chính xác.

Những yếu kém trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là việc quản lư và nắm cán bộ chưa chắc, chưa sâu; tinh thần tự phê b́nh và phê b́nh kém, tính chiến đấu chưa cao. Một số nơi c̣n có biểu hiện lệch lạc, thiếu công tâm, khách quan, trong đánh giá cán bộ; nội bộ mất đoàn kết, cục bộ, gia trưởng, xen động cơ cá nhân trong đánh giá cán bộ.

3.2. Về quy hoạch cán bộ

- Trong quá tŕnh thực hiện Chiến lược cán bộ, Bộ Chính trị (khoá IX) đă có Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 về “Công tác quy hoạch cán bộ lănh đạo, quản lư thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) có Kết luận số 37-KL/TW ngày 02/02/2009 về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020”; Bộ Chính trị (khoá XI) có Kết luận số 24-KL/TW ngày 05/6/2012 về “Đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lănh đạo, quản lư đến 2020 và những năm tiếp theo” và Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 30/5/2014 về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, v.v.

- Để thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Tổ chức Trung ương đă có Hướng dẫn số 17-HD/BTCTW ngày 23/4/2003; Hướng dẫn số 47-HD/BTCTW ngày 24/5/2005; Hướng dẫn số 50-HD/BTCTW, ngày 06/7/2005 về “Công tác Quy hoạch cán bộ lănh đạo, quản lư thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW ngày 05/11/2012 về “Công tác quy hoạch cán bộ lănh đạo, quản lư theo tinh thần Nghị quyết 42-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IX) và Kết luận số 24-KL/TW của Bộ Chính trị (khoá XI)”; Hướng dẫn số 26-HD/BTCTWW, ngày 18/8/2014 về “Công tác nhân sự tại đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”,v.v.

- Thực hiện sự chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, công tác quy hoạch cán bộ đă đi dần vào nền nếp và đạt một số kết quả quan trọng: Nguồn quy hoạch cho các chức danh lănh đạo, quản lư khá dồi dào; tŕnh độ đào tạo, cơ cấu ngành nghề, tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc ít người có bước tiến bộ. Công tác quy hoạch cán bộ đă cơ bản bảo đảm sự đồng bộ từ dưới lên, mỗi chức danh quy hoạch từ 2 - 3 người và một người có thể quy hoạch vào một số chức danh; lấy quy hoạch cấp ủy làm cơ sở để quy hoạch cán bộ lănh đạo đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể; số lượng cán bộ được quy hoạch b́nh quân đạt từ 1,5 - 2 lần so với số lượng cần bổ nhiệm, bầu cử. Trong nhiệm kỳ Đại hội khóa XI, Bộ Chính trị đă chỉ đạo và tiến hành việc quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lănh dạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016- 2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo.

Tuy nhiên, mặt yếu kém trong công tác quy hoạch cán bộ :

- Việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ chưa có tầm nh́n xa; c̣n phổ biến t́nh trạng khép kín trong từng ngành, từng địa phương; chưa bảo đảm sự liên thông giữa quy hoạch của cấp dưới với quy hoạch của cấp trên, giữa Trung ương và địa phương, giữa các bộ, ngành, các lĩnh vực công tác; chưa bảo đảm cơ cấu 3 độ tuổi trong quy hoạch cán bộ. Chậm quy hoạch cán bộ cấp chiến lược; mới tập trung quy hoạch cán bộ lănh đạo, quản lư, chưa quan tâm chú ư đến quy hoạch cán bộ các lĩnh vực khác…

- Chất lượng quy hoạch cán bộ chưa cao; tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc, cán bộ xuất thân từ công nhân chưa đạt yêu cầu. Công tác quy hoạch ở một số bộ, ngành, địa phương c̣n chung chung, h́nh thức, thiếu tính khả thi; chưa gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ. Do đó, một số nơi vẫn c̣n bị động, lúng túng về cán bộ; có nơi vừa mới quy hoạch nhưng khi làm công tác nhân sự th́ vẫn khó khăn, không chọn được cán bộ.

3.3. Về luân chuyển cán bộ

- Trong quá tŕnh thực hiện Chiến lược cán bộ, Bộ Chính trị khoá IX đă có Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 25/01/2002 về luân chuyển cán bộ lănh đạo, quản lư; Bộ Chính trị khoá X có Kết luận số 127-KL/TW ngày 02/01/2008 về đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ lănh đạo, quản lư và cho chủ trương tăng thêm một số chức danh lănh đạo cấp ủy, chính quyền đối với một số tỉnh, thành phố và một số đơn vị cấp huyện để vừa tăng cường cán bộ lănh đạo, quản lư, vừa để đào tạo, rèn luyện cho đội ngũ cán bộ trong hoạt động thực tiễn.

- Công tác luân chuyển cán bộ những năm qua đă góp phần đào tạo, rèn luyện, thử thách cán bộ qua thực tiễn và tăng cường thêm cán bộ cho những nơi có khó khăn; khắc phục một bước xu hướng cục bộ, khép kín, tŕ trệ của đội ngũ cán bộ. Kết quả luân chuyển cán bộ từ Trung ương và địa phương trong hai nhiệm kỳ Đại hội IX và X đă góp phần đào tạo được nhiều cán bộ; nhiều đồng chí đă được bầu vào BCH Trung ương khoá X, khoá XI, khóa XII, được bầu làm bí thư tỉnh ủy hoặc giữ cương vị chủ chốt ở các ban, bộ, ngành Trung ương và Quốc hội.

- Trong quá tŕnh thực hiện luân chuyển cán bộ, Bộ Chính trị khoá IX đă chỉ đạo thực hiện thí điểm chủ trương luân chuyển, bố trí một số chức danh cán bộ lănh đạo, quản lư chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương. Tiếp theo đó, nhiều tỉnh, thành phố khác đă triển khai thực hiện ở cả cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xă; Bộ Quốc pḥng và Bộ Công an đă và đang triển khai thực hiện mạnh mẽ việc bố trí chỉ huy trưởng quân sự và giám đốc công an cấp tỉnh, cấp huyện không phải người địa phương; v.v.

- Ngoài ra, đă thực hiện chủ trương đưa cán bộ, sỹ quan biên pḥng về tăng cường cho các xă biên giới và làm bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch, trưởng hoặc phó công an xă; đưa sinh viên tốt nghiệp đại học về làm phó chủ tịch UBND ở các xă của 61 huyện nghèo, đă góp phần củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở.

Tuy nhiên, mặt hạn chế, khuyết điểm nổi lên là:

- Nhận thức về ư nghĩa, tầm quan trọng của công tác luân chuyển cán bộ của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa đầy đủ, sâu sắc; việc thực hiện c̣n chậm và chưa đồng đều giữa các cấp, các ngành, c̣n khép kín trong ngành, địa phương.

- Công tác luân chuyển cán bộ ở một số nơi chưa dựa trên cơ sở đánh giá và quy hoạch cán bộ; c̣n nhầm lẫn giữa luân chuyển để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ với điều động bố trí cán bộ theo yêu cầu; một số trường hợp luân chuyển không rơ ư định, hướng bố trí sau luân chuyển. Một số nơi có biểu hiện lệch lạc, lợi dụng luân chuyển để “dán tem” hoặc đẩy cán bộ “không ăn cánh với ḿnh” đi nơi khác.

- Việc lựa chọn địa bàn, chức danh luân chuyển có một số trường hợp c̣n bất hợp lư, trái ngành, trái nghề, làm hạn chế sự đóng góp của cán bộ luân chuyển. Một số ít cán bộ luân chuyển chậm tiếp cận với công việc, cá biệt có trường hợp c̣n chọn địa bàn, vị trí sau luân chuyển. Chủ trương luân chuyển, bố trí một số chức danh cán bộ lănh đạo không phải người địa phương ít được thực hiện do chưa có quy định cụ thể.

3.4. Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

- Từ khi Trung ương ban hành Chiến lược cán bộ đến nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đă có nhiều quyết định, chỉ thị, kết luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ như: Quy định chế độ học tập lư luận chính trị trong Đảng; việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (Đề án 165); thành lập trường chính trị tỉnh, thành phố và trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; kiện toàn tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức mới cho cán bộ lănh đạo đương chức và cán bộ dự nguồn cấp Trung ương; các lớp bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ theo chức danh, v.v.

- Các cấp ủy địa phương đă tập trung chỉ đạo xây dựng trường chính trị tỉnh và trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Quốc pḥng, Bộ Nội vụ trong đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp về lư luận chính trị, kiến thức quản lư nhà nước và quốc pḥng - an ninh; phối hợp với các trường đại học trong và ngoài nước mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng các chuyên ngành về quản lư kinh tế, xă hội, ngoại ngữ…

- Nội dung, h́nh thức đào tạo, bồi dưỡng từng bước được đổi mới, sát với yêu cầu thực tiễn; cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo được tăng cường.Trong nhiệm kỳ khoá XI, Bộ Chính trị đă chỉ đạo mở các lớp bồi dưỡng, cập nhật, bổ sung kiến thức mới cho cán bộ, lănh đạo, quản lư theo chức danh, kể cả các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; mở các lớp bồi dưỡng cho bí thư huyện ủy và tương đương; tổ chức 6 lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp ở Trung ương, mỗi lớp trong thời gian 4 tháng, với hơn 500 đồng chí cán bộ lănh đạo, quản lư trong quy hoạch tham dự.

Tuy nhiên, công tác nghiên cứu, dự báo nhu cầu đào tạo chưa gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xă hội và c̣n thiếu tầm chiến lược. Hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa đồng bộ, cồng kềnh, phân tán; công tác quản lư đào tạo thiếu thống nhất; chưa cân đối giữa đào tạo, bồi dưỡng lư luận chính trị với chuyên môn, nghiệp vụ và quản lư nhà nước; trong đào tạo chuyên môn cũng mất cân đối giữa các ngành nghề và lĩnh vực công tác…

II. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ TRONG THỜI GIAN TỚI

Để tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, trong những năm tới, các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị các cấp cần quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Trung ương về công tác cán bộ. Đồng thời, tập trung lănh đạo, chỉ đạo thực hiện một số nội dung cụ thể sau đây:

1. Phương hướng chung

Để tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ trong t́nh h́nh hiện nay, Nghị quyết Đại Hội XII của Đảng chỉ rơ: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, với các nội dung chủ yếu sau:

(1). Thể chế hóa, cụ thể hóa các nguyên tắc về xây dựng Đảng, như: quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng răi trong công tác cán bộ; quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, giữa đức và tài, giữa kế thừa và phát triển; giữa sự quản lư thống nhất của Đảng với phát huy đầy đủ trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống chính trị; giữa thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân và tập thể; giữa phân cấp, phân quyền và kiểm tra, giám sát, kiểm soát để thực hiện thống nhất, đồng bộ trong Đảng và trong hệ thống chính trị.

(2). Tiếp tục ban hành và thực hiện các quy định, quy chế, cơ chế trong công tác cán bộ bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và chặt chẽ giữa các khâu, liên thông giữa các cấp; trong đó có quy chế về việc đánh giá đúng đắn, khách quan đối với cán bộ, để có cơ sở sử dụng, bố trí cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi t́nh trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp…

(3). Tăng cường trách nhiệm của cấp ủy, nhất là cấp ủy cơ sở trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Xác định rơ nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong giai đoạn hiện nay là bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; bảo vệ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ cán bộ, đảng viên về mặt chính trị. Gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

(4). Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hiện tượng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, gây mất đoàn kết trong Đảng. Xử lư nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm quy định của Ban chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm. Đấu tranh có hiệu quả với với âm mưu, hoạt động “diễn biến ḥa b́nh” của các thế lực thù địch.

(5). Đổi mới mới công tác bầu cử trong Đảng, phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ,… để lựa chon những người thực sự có đức, có tài giữ các vị trí lănh đạo, đặc biệt là người đứng đầu. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ. Có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài.

2. Nhiệm vụ, giải pháp

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, trong những năm tới, các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị các cấp cần quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Trung ương về công tác cán bộ. Đồng thời, tập trung lănh đạo, chỉ đạo thực hiện một số nội dung cụ thể sau đây:

2.1. Đổi mới phương thức lănh đạo của Đảng về công tác cán bộ.

Trong đó, tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

(1). Tiếp tục thể chế, cụ thể hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lănh đạo công tác cán bộ và quản lư đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ.

(2). Bổ sung, hoàn thiện hệ thống các quy định, quy chế về sự lănh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của các tổ chức thành viên khác trong hệ thống chính trị. Tiếp tục cải tiến quy tŕnh công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xă hội.

(3). Mở rộng và phát huy dân chủ trong công tác cán bộ, bảo đảm khách quan, công tâm, công khai, minh bạch.

2.2. Tiếp tục đổi mới công tác đánh giá cán bộ

 (1). Xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ và tiêu chí đánh giá cụ thể đối với từng chức danh, từng đối tượng cán bộ, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.

(2). Đề cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ lănh đạo, quản lư, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp. Quy chế hoá trách nhiệm cá nhân trên các phương diện: trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lư, trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm công dân. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ, bảo đảm dân chủ, công tâm, công khai, minh bạch, khách quan, toàn diện;

(3). Phát huy vai tṛ, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, lănh đạo cơ quan, đơn vị trong nhận xét, đánh giá cán bộ. Lấy số lượng, chất lượng và hiệu quả hoàn thành các nhiệm vụ được giao làm thước đo chủ yếu để đánh giá phẩm chất, năng lực của cán bộ;

(4). Các cấp ủy, tổ chức đảng quản lư chặt chẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; về các mối quan hệ xă hội ở nơi công tác và nơi cư trú.

2.3. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ

(1). Quy hoạch cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và t́nh h́nh thực tế của đội ngũ cán bộ; phải gắn với các khâu khác của công tác cán bộ, bảo đảm sự liên thông giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các ngành và trong đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị.

(2). Phải đánh giá đúng phẩm chất, năng lực của cán bộ theo quy tŕnh chặt chẽ trước khi đưa vào quy hoạch; hàng năm phải tiến hành rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch, đưa những người không đủ tiêu chuẩn khỏi danh sách quy hoạch và bổ sung những người tiêu biểu, xuất sắc vào quy hoạch.

(3). Quy hoạch cán bộ phải bảo đảm phương châm “động” và “mở”. Đối với cán bộ đương chức, chỉ quy hoạch vào các chức vụ cao hơn. Số lượng cán bộ đưa vào quy hoạch phải bảo đảm từ 1,5 đến 2 lần cán bộ đương chức; mỗi chức danh cán bộ quy hoạch từ 2 - 3 người và một người có thể quy hoạch cho nhiều chức danh.

(4). Phải bảo đảm cơ cấu 03 độ tuổi trong quy hoạch và gian cách giữa các độ tuổi là 5 năm; bảo đảm tỷ lệ nữ trong quy hoạch không dưới 15%. Nếu không bảo đảm cơ cấu th́ cấp trên không phê duyệt và có thể bổ sung cán bộ từ nơi khác vào quy hoạch.

(5). Thực hiện công khai trong công tác quy hoạch cán bộ (công khai về tiêu chuẩn, số lượng và danh sách cán bquy hoạch đă được cấp trên phê duyệt). Xây dựng cơ chế, chính sách trọng dụng người tài để tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ tham mưu, chuyên gia cấp chiến lược.

(6). Đẩy mạnh thực hiện Quy hoạch cán bộ cấp chiến lược.

2.4. Đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ lănh đạo, quản lư

 (1). Việc luân chuyển cán bộ phải được chọn lọc kỹ lưỡng, thực hiện theo quy tŕnh chặt chẽ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, hiệu quả. Thực hiện việc luân chuyển cán bộ lănh đạo, quản lư từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên và luân chuyển ngang giữa các địa phương; giữa các cơ quan Đảng, đoàn thể với các cơ quan Nhà nước và ngược lại.

(2). Xây dựng cơ chế và đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ lănh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện và một số ngành (toà án, viện kiểm sát, công an, thuế,… không là người địa phương. Phấn đấu đến năm 2017, thực hiện từ 35 - 50% ở cấp tỉnh; 50 - 60% ở cấp huyện.

(3). Kết hợp thực hiện cơ chế thực tập, tập sự lănh đạo, quản lư với luân chuyển cán bộ để đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ trong thực tiễn.

2.5. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

 (1). Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải trên cơ sở quy hoạch và theo tiêu chuẩn chức danh cán bộ. Đẩy mạnh bồi dưỡng và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ lănh đạo, quản lư theo chức danh và cán bộ dự nguồn ở các cấp, kể cả các đồng chí là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

(2). Củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng về mọi mặt của hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Huy động mọi nguồn lực và tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cả trong và ngoài nước; cả trong và ngoài khu vực kinh tế nhà nước.

(3). Sớm xây dựng chương tŕnh quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; chiến lược quốc gia về nhân tài để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

2.6. Đổi mới công tác tuyển chọn, bố trí, sử dụng cán bộ

(1). Tiếp tục hoàn thiện chế độ bầu cử; cải tiến cách thức tuyển chọn, lấy phiếu tín nhiệm, bổ nhiệm cán bộ để chọn đúng người, bố trí đúng việc, nhất là người đứng đầu. Mở rộng việc thi tuyển cán bộ lănh đạo quản lư và giới thiệu nhiều nhân sự để lựa chọn. Thực hiện chủ trương những người dự kiến đề bạt, bổ nhiệm phải tŕnh bày đề án hoặc chương tŕnh hành động trước khi cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

(2). Thực hiện nghiêm quy chế cho thôi chức, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lănh đạo, quản lư. Kịp thời thay thế những cán bộ lănh đạo, quản lư, nhất là người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị, các doanh nghiệp nhà nước, tổng công ty, tập đoàn kinh tế… không hoàn thành nhiệm vụ, kém về phẩm chất đạo đức, yếu về năng lực, tín nhiệm thấp, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác.

(3). Xây dựng cơ chế để đảng viên, nhân dân tham gia giám sát cán bộ và công tác cán bộ. Có chế tài xử lư nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy huân chương.

(4). Thực hiện nghiêm Quy chế chất vấn trong Đảng; cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc trao và thực thi quyền lực của tổ chức và cá nhân, ngăn ngừa sự lộng quyền, vượt quyền. Thực hiện nghiêm túc việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các thành viên lănh đạo cấp ủy; cán bộ lănh đạo trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xă hội theo hướng mở rộng đối tượng tham gia.

(5). Thí điểm giao quyền cho bí thư cấp ủy lựa chọn, giới thiệu để bầu cử ủy viên thường vụ cấp ủy; cấp trưởng có trách nhiệm lựa chọn, giới thiệu để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó.

 (6). Phối hợp chặt chẽ công tác kiểm tra giám sát của Đảng, với thanh tra, kiểm toán của Nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Kiểm tra, giám sát, chặt chẽ việc kê khai và công khai, minh bạch việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lănh đạo, quản lư và người đứng đầu các cấp.

(7). Nghiên cứu, xây dựng quy định về xử lư và truy cứu trách nhiệm đối với cán bộ, đảng viên có sai phạm khi đă chuyển vị trí công tác khác hoặc đă nghỉ hưu.

(8). Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan tham mưu và đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ; xây dựng đội ngũ làm công tác tổ chức cán bộ có bản lĩnh, công tâm, khách quan, liêm khiết và gương mẫu./.

----------------------

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

          1. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

          2. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khoá VIII) về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”;

3. Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị về “Luân chuyển cán bộ lănh đạo, quản lư các cấp” và Nghị quyết 42 của Bộ Chính trị (khoá IX) vềCông tác quy hoạch cán bộ lănh đạo, quản lư thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”;

4. Kết luận 37-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020”;

          5. Nghị quyết 12-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI): “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

6. Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương (khoá XI) về “Tăng cường và đổi mới công tác Dân vận của Đảng trong t́nh h́nh mới”.

7. Kết luận số 24-KL/TW ngày 05/6/2012 của Bộ Chính trị (khoá XI) về “Đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lănh đạo, quản lư đến năm 2020 và những năm tiếp theo”.

8. Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW ngày 05/11/2012 của Ban Tổ chức Trung ương về “Công tác quy hoạch cán bộ lănh đạo, quản lư…”.

9. Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xă hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xă hội”.

10. Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) ban hành “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xă hội và nhân dân tham gia góp ư xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”.

11. Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 30/5/2014 của Bộ Chính trị về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ XII của Đảng”.

12. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

----------