Báo Lào Cai Online
Hotline: 02143.840.046 - 0986575708

Phóng sự

Thăm già làng Mông xanh

29/10/2018 08:25

LCĐT - Một ngày đầu tháng Mười, có đoàn thiện nguyện Xuyến Chi Mai đến trao quà từ thiện cho hộ nghèo và học sinh xã Nậm Rạng, huyện Văn Bàn. Lễ trao tặng quà được tổ chức tại thôn Nậm Lạn nên chúng tôi phải rẽ từ xã Võ Lao theo đường tắt liên thôn. Tạm gọi là đường liên thôn vì không thấy có tên đường. Đường lát đá rải nhựa nhưng nhiều đoạn lổn nhổn ổ lợn, ổ trâu không được sửa chữa. Mấy hôm trước tiết trời mát mẻ dễ chịu là thế mà tự nhiên hôm ấy đột nhiên nắng nóng, lại thêm sự kiện Quốc tang nên buổi lễ kết thúc sớm.

Chúng tôi không về ăn cơm trưa ở Võ Lao theo lời mời của đoàn thiện nguyện mà đi tiếp ra Quốc lộ 279 để lên Nậm Xé, xã nằm sâu trong triền núi Hoàng Liên, cảm nhận cuộc sống người dân nơi vùng sâu, vùng cao, trong đó có người Mông Giua (Mông xanh) hiếm hoi. Hồi ấy, huyện Than Uyên còn thuộc tỉnh Lào Cai, xã Nậm Sỏ cách trung tâm huyện những hơn ba chục cây số vừa bị thiên tai mưa lũ, đoàn công tác của tỉnh vào thăm nhưng bị mưa nên phải vội quay về theo đường 279 và ghé qua thăm, từ đó tôi chưa trở lại.

Tác giả và già làng Mông xanh Giàng A Sáng (thứ 3 bên phải sang).

Tới trung tâm xã, người đầu tiên chúng tôi gặp là ông Vàng A Sáng ngồi ngay trước cửa để trông quầy hàng của gia đình bán đồ nhu yếu phẩm. Ông hồ hởi tay bắt mặt mừng đón chúng tôi mặc dù không hẹn trước. Tôi xin lỗi vì sự đường đột này nhưng ông xua xua tay:

- Có tuổi rồi, về hưu ở nhà trông hàng thôi mà! Đến chơi thì vui quá rồi!

Câu chuyện trở nên mặn mà khi tôi tự giới thiệu tên mình. Ông mừng như vồ lấy tay tôi nắm thật chặt:

- Ô! Nhà nghiên cứu văn hóa người Mông ta! Quý lắm!

Kể tên một số đồng chí lãnh đạo tỉnh, một số cán bộ là người Mông ông đã từng gặp và nói đã từng đến xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, rồi tâm sự. Ông sinh năm 1952, vậy là năm nay 66 tuổi. Học hết phổ thông 10/10 thì đi bộ đội, sau đó phục viên về làng loanh quanh với công việc địa phương từ chủ tịch đến bí thư xã, hiện giờ đang làm Chủ tịch Hội Khuyến học, già làng có uy tín. Quả là nơi trang trọng tường nhà có treo tấm ảnh 4 người của đoàn huyện Văn Bàn đi dự Đại hội dân tộc thiểu số toàn quốc, trong đó ông vẫn trưng diện bộ đồ dân tộc mình.

Hỏi chuyện về tộc người, ông nói vanh vách rằng người Mông Giua (Mông xanh) chỉ có ở Nậm Xé. Một số xã khác cũng có nhưng là Mông Đơ (Mông trắng) và một số hộ Mông Lềnh mới chuyển từ huyện khác đến. Ông nhớ như in những năm năm mươi thế kỷ trước, người Mông Giua ở Nậm Xé chỉ có 6 hộ thuộc họ Vàng Cả, Vàng Thứ, Lý Cả, Lý Nhỏ, Thàng và Giàng. Sự thực tôi ngạc nhiên đến thích thú về cách chia họ của người Mông Giua. Tôi liền tranh thủ cơ hội học một số từ, đồng thời ghi bằng chữ Mông, nhận ra một số từ rất khác nhau giữa Mông Giua và Mông Lềnh, cũng có từ giống nhau và từ hơi chệch về cách phát âm. Ví dụ:

+ Khác nhau: Từ Mông Lềnh: Txir (chí), còn gọi là Veiv (vảy) - bố (tiếng Kinh) thì tiếng Mông Giua là APei. Nav (nả) - mẹ = AMei.

+ Giống nhau: Từ Mông Lềnh: Cưr (cứ) - em (tiếng Kinh) thì tiếng Mông Giua cũng là Cưr (cứ); Tril (trì) - quần (tiếng Kinh) thì Mông Giua cũng là Tril.

+ Gần giống nhau: Từ Mông Lềnh: Tul keiz - con gà (tiếng Kinh) thì tiếng Mông Giua là tôngz keiz; Tul buô - con lợn thì tiếng Mông Giua là tôngz bu.

Chữ Mông Việt Nam đã được nghiên cứu, xây dựng cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 mà người Mông hồi đó vẫn gọi là “chữ Mông Bác Hồ” đã được Phó Thủ tướng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Lê Thanh Nghị ký cho phép thử nghiệm trong đời sống. Cho nên, đồng bào Mông ở tỉnh Lào Cai đã sử dụng chữ Mông để xóa mù chữ, đồng thời đưa vào các trường tiểu học có đông người Mông. Nếu như sử dụng hệ thống chữ cái này chắc chắn ghi chép được tiếng Mông Giua. Đồng chí Chủ tịch UBND xã Vàng A Tớ (là con trai của ông Sáng) cho biết: Đã nhiều đoàn trong nước và nước ngoài đến khảo cứu nhưng chẳng để lại dư âm gì. Nghe nói vậy, tôi hiểu ngay trong số những đoàn đến khảo sát đó hẳn không ai là người Mông và nếu như có người Mông thì cũng không biết chữ Mông Việt Nam, vì thế mà họ thất bại.

Đồng chí Chủ tịch UBND xã cho biết thêm, hiện người Mông Giua trong xã có 120 hộ, 700 nhân khẩu. Dân số phát triển là do người Mông Giua không tự ti mà họ còn mạnh dạn kết hôn với các dân tộc khác để các thế hệ sau không bị thui chột. Ngay như ông Sáng là người tiên phong lấy vợ người Kinh. Tôi thật sự ngạc nhiên, phải nói là kinh ngạc mới chính xác, khi bà nói tiếng Mông Giua thuần thạo như người Mông Giua vậy.

Hỏi thêm, bà trả lời đầy tự hào: Vợ chồng có 6 người con đều nói tiếng Mông Giua khi sinh hoạt trong gia đình, chỉ khi giao tiếp với người khác tộc mới dùng tiếng Kinh. Ông bà không khoe, nhưng con cháu đều phương trưởng, trong đó Vàng A Tớ đang đảm nhiệm chức Chủ tịch UBND xã và một người làm Trưởng Công an của xã.

Cách đây mấy hôm, tình cờ gặp anh Phạm Bình Minh, con trai nguyên Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phạm Kỳ, hiện đương nhiệm Phó Chủ tịch UBND huyện Văn Bàn, anh nói với giọng đầy hào hứng: “Cả thế giới chỉ huyện Văn Bàn là có người Mông Xanh!”. Song, theo tài liệu tôi có được để biên soạn công trình “Tiếp cận văn hóa Mông” (NXB Văn hóa dân tộc năm 2014) thì nhánh Mông Giua còn có ở Sính Phình (huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên), Lùng Phình, huyện Bắc Hà và Nậm Xây (Văn Bàn), nhưng nhóm Nậm Xây do số nhân khẩu quá ít nên đã hòa cùng với người Mông Đơ.

Phó Chủ tịch UBND huyện Văn Bàn còn nói thêm: “Nhóm Mông Xanh này là từ Nhật Bản di cư tới”. Tôi cũng được tiếp cận tài liệu rằng thời tao loạn xa xưa có một nhóm Mông dạt tới một hòn đảo phía Đông của Nhật Bản. Để tránh sự biến hóa thành người bản xứ, nhóm Mông này đã vượt biển khơi tìm tới định cư ở đất liền sâu trong lõi núi non trùng điệp, có thể là trong dãy Hoàng Liên của Việt Nam chăng. Soi vào những câu chuyện huyền hoang từng được nghe người cao niên kể từ thời bé thơ còn nhớ, thấy có chuyện vượt biển, có chuyện chữ bị thuồng luồng nuốt mất, rồi chuyện con gái vua Thủy Tề yêu và quyết chí lấy chàng trai Mông mồ côi làm chồng...

Hỏi ông Sáng có biết câu chuyện huyền thoại, truyền thuyết nào liên quan đến quá khứ ăn sâu trong tâm thức của người Mông Giua? Thì ông nói điều như tôi đã biết: Từ Tả Sào (tức Đại Triều) đến Sa Pa, rồi tiếp đến định cư tại triền núi hẻo lánh Hoàng Liên, còn bao nhiêu đời, thời gian đến định cư tại Nậm Xé thì ông không trả lời được. Tôi thầm nghĩ những ký ức xa xưa ấy với người lao động chân tay bình thường, đặc biệt với nhà nông chẳng cần khắc ghi, lưu giữ làm gì khi đất đai màu mỡ nơi ta ở mỗi mùa lại ban cho những hạt, những trái chín vàng căng mập đắp đền những giọt mồ hôi đổ xuống và chung quanh ta là tiếng gà gáy vang dội mỗi sáng, tiếng mõ trâu lốc cốc mỗi ngày, tiếng xe máy rù rì lăn trên đường bình yên.

Tuy vậy, trên đường về, một ý nghĩ cứ “cào cấu” trong tôi: Không biết ở Sính Phình, Lùng Phình, người Mông Giua có còn nói tiếng Mông Giua của mình như 700 người ở Nậm Xé hay không? Chả nhẽ cả thế giới này chỉ còn 700 người nói một thứ ngôn ngữ riêng lạ như được gửi từ hành tinh xa xôi tới làm bạn với các ngành Mông, các tộc người sinh sống trên hành tinh trái đất?

Mã A Lềnh
Mã bảo mật

Tổng Biên tập: Ngô Văn Hinh, Phó Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Hoàng - Đặng Viết Xuyên. Trụ sở: Tầng 6, khối 4, phố 30 tháng 4, P.Bắc Lệnh, T.P Lào Cai.

Giấy phép xuất bản số: 41/GP-BTTTT cấp ngày 28/01/2016; Điện thoại: 0214.3840.046 - Fax: 0214.3840.921; Email: baolaocaidientu@gmail.com

Ghi rõ nguồn “Báo Lào Cai điện tử” khi sử dụng thông tin trang này.