TỈNH UỶ LÀO CAI

*

Số  22 -ĐA/TU

 

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Lào Cai, ngày 03 tháng 11 năm 2017

 

ĐỀ ÁN

THÍ ĐIỂM  ĐỔI MỚI CÁCH TUYỂN CHỌN LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ                 CẤP SỞ, CẤP PHÒNG TẠI TỈNH LÀO CAI

----------

 

PHẦN I

SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1. Thực trạng và sự cần thiết

Trong những năm qua, tỉnh Lào Cai đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, công chức học tập, phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành, trong đó có nhiều cơ chế, chính sách đột phá như: Chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức có trình độ cao tự nguyện công tác ở phường, xã, thị trấn; chính sách đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ trong và ngoài nước; chính sách nghỉ hưu, thôi việc trước tuổi... Nhìn chung đội ngũ cán bộ, công chức đã có những bước phát triển về chất; việc sử dụng đội ngũ cũng có nhiều tiến bộ như việc bố trí, tạo môi trường làm việc, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác được tiến hành thường xuyên; chú trọng chất lượng “đầu vào” thông qua tuyển dụng cạnh tranh, đồng thời cũng kết hợp hài hòa giải quyết “đầu ra” bằng cách ban hành chính sách riêng của tỉnh nhằm động viên cho cán bộ, công chức có sức khỏe không bảo đảm, năng lực hạn chế nghỉ hưu, thôi việc trước tuổi; việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ cũng đã mạnh dạn hơn, chú ý đến những nhân tố mới có tuổi đời trẻ và có năng lực, phẩm chất.

Công tác đề bạt bổ nhiệm công chức, viên chức lãnh đạo quản lý ở các sở, ban, ngành và các đơn vị sự nghiệp được thực hiện theo đúng các văn bản quy định về công tác cán bộ của Trung ương và của tỉnh, bảo đảm nguyên tắc, tiêu chuẩn và quy trình từ khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm. Cơ bản đã lựa chọn, bổ nhiệm được các cán bộ có khả năng, năng lực, trình độ, có phẩm chất tốt vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt của các cơ quan, đơn vị, các huyện ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc. Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức lãnh đạo của tỉnh đã có những bước phát triển về chất; đã chú trọng đến việc bố trí môi trường làm việc, luân chuyển cán bộ; việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ cũng đã chú ý đến những nhân tố mới, có tuổi đời trẻ, có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt. Hầu hết số cán bộ được bổ nhiệm đều trong diện quy hoạch, có phẩm chất chính trị vững vàng, hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý bộc lộ những tồn tại, hạn chế đó là: Việc tuyển chọn lãnh đạo, quản lý hiện nay chưa có tính cạnh tranh cao, chưa phát hiện được nhiều cán bộ trẻ có khả năng sáng tạo, có tầm trong lãnh đạo, chỉ đạo để lựa chọn được những cán bộ, công chức, viên chức có đức, có tài để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý; vẫn còn phổ biến tình trạng “sắp hàng, sống lâu lên lão làng” chưa tạo được động lực cao nhất để những cán bộ, công chức trẻ rèn luyện, phấn đấu trong công tác và chưa có sự đột phá trong việc lựa chọn số cán bộ trẻ, được đào tạo cơ bản và có năng lực công tác để bổ nhiệm giữ chức vụ cấp trưởng phòng trở lên; một số cán bộ có tư tưởng đã được quy hoạch thì đương nhiên được đề bạt, bổ nhiệm, không chịu khó học tập nâng cao trình độ; tình trạng trì trệ, sức ỳ trong công tác lãnh đạo của một số cán bộ vẫn còn. Một lực lượng lớn công chức trẻ hội đủ các điều kiện để có thể đảm nhận được các cương vị lãnh đạo, quản lý trong đơn vị lại thiếu cơ hội để phát triển, dẫn đến tình trạng hụt hẫng, mất hứng thú trong công việc. Trong công tác cán bộ ở một số cấp cơ sở, còn có tư tưởng về bệnh “kinh nghiệm”, tư tưởng “có lên mà không có xuống” nên một số cán bộ lãnh đạo, quản lý sau khi được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại còn hạn chế về năng lực, thiếu ý thức phấn đấu, rèn luyện về chuyên môn và phẩm chất đạo đức. Mặt khác, cơ chế bổ nhiệm và giới thiệu hiện hành, tiêu chí đánh giá cán bộ, các khâu lấy ý kiến, thăm dò bằng phiếu tín nhiệm để bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa phát hiện hết những người có tài năng, phẩm chất đạo đức tốt để bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng về đổi mới tuyển chọn chức danh lãnh đạo, quản lý; tạo điều kiện cho những người có đức, có tài, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ có cơ hội điều kiện phát triển và tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý của các cơ quan, ban ngành của tỉnh. Đồng thời góp phần khuyến khích những người có tài năng và phẩm chất tốt tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị nhà nước việc thì việc nghiên cứu xây dựng Đề án đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp sở, cấp phòng các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh là cần thiết và tất yếu trong giai đoạn đổi mới hiện nay.

2. Cơ sở pháp lý

Đề án được xây dựng dựa trên các căn cứ:

Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;

Luật Viên chức ngày 15 tháng 11 năm 2010;

Kết luận số 37-KL/TW ngày 02.02.2009 của Hội nghị lần thứ Chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020 nêu yêu cầu: “Mở rộng việc thí điểm đổi mới cách tuyển chọn cán bộ vào các chức danh lãnh đạo cấp phòng ở tỉnh, thành phố và cấp vụ ở các bộ, ngành Trung ương, xem xét đưa vào tuyển chọn và thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng theo quy hoạch”.

Kết luận của Hội nghị lần thứ bẩy Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI tiếp tục yêu cầu: Thực hiện thi tuyển các chức danh quản lý ở Trung ương (đến cấp vụ trưởng) và ở địa phương (đến cấp giám đốc sở) và tương đương”.

Thông báo số 202-TB/TW, ngày 26/5/2015 Kết luận của Bộ Chính trị về Đề án "Thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng".

Công văn số 3135-CV/VPTW ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Văn phòng Trung ương Đảng về việc triển khai Đề án Thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng;

Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08.11.2011 của Chính phủ xác định nhiệm vụ: “Hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng, bố trí, phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ, năng lực, sở trường của công chức, viên chức trúng tuyển; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trưởng và tương đương (ở trung ương), giám đốc sở và tương đương (ở địa phương) trở xuống”.

Đề án “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18.10.2012 đã xác định các nội dung cải cách: Thực hiện chính sách nhân tài: Quy định các chế độ, chính sách liên quan đến việc phát hiện, tuyển chọn, tiến cử, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng trong hoạt động công vụ; Đổi mới công tác bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý: Đổi mới phương thức tuyển chọn lãnh đạo cấp vụ, cấp sở, cấp phòng.

Công văn số 2424/BNV-CCVC ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Đề án thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng;

Công văn số 4260/BTC-HCSN ngày 30 tháng 3 năm 2017 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn xây dựng dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí triển khai Đề án thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng.

 

Phần II

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ ÁN

I- Tên Đề án: “Đề án thí điểm đổi mới cách tuyển chọn chức danh lãnh đạo, quản lý cấp sở, cấp phòng tại tỉnh Lào Cai”.

II- Mục tiêu, yêu cầu, quan điểm, nguyên tắc, chức danh, đối tượng và thời gian thí điểm đổi mới cách tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý

1- Mục tiêu

- Thông qua đổi mới cách tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý để cấp có thảm quyền lựa chọn, bổ nhiệm người thực sự có năng lực lãnh đạo, quản lý, thực sự am hiểu về chuyên môn, nghiệp vụ; có phẩm chất chính trị, đạo đức, có uy tín, xứng đáng với vị trí lãnh đạo, quản lý cần bổ nhiệm.

- Phát hiện, thu hút, trọng dụng những người có đức, có tài, phát huy được phẩm chất, trình độ, năng lực, kinh nghiệm để đóng góp sức lực, trí tuệ cho sự phát triển bền vững của địa phương; nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý cấp sở, cấp phòng.

- Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thu hút những người thật sự có năng lực, đạo đức tốt từ bên ngoài cơ quan, đơn vị cùng tham gia; từng bước đổi mới quy trình bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý; tránh tình trạng cục bộ, khép kín trong công tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các cơ quan, đơn vị, địa phương.

- Tạo điều kiện, động lực để cán bộ, công chức phấn đấu, rèn luyện, học tập và có cơ hội để tham gia công tác lãnh đạo, quản lý; tạo tính năng động trong công tác cán bộ;

- Trên cơ sở kết quả thực hiện thí điểm, tiếp tục hoàn thiện cơ chế tuyển chọn cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý các cấp trong toàn hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh.

2- Yêu cầu

- Bảo đảm tính bình đẳng, khách quan, minh bạch, chính xác, công khai và dân chủ trong quá trình tổ chức triển khai thí điểm đổi mới tuyển lãnh đạo quản lý; lựa chọn được người thực sự có đức, có tài, phù hợp với vị trí được bổ nhiệm.

- Phát huy vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền của người đứng đầu cơ quan, tố chức, đơn vị; tăng cường sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm, quản lý cán bộ, công chức, viên chức và của các tổ chức đoàn thể của cơ quan, đơn vị sử dụng chức danh tuyển chọn.

- Việc tổ chức thi tuyển phải tạo được môi trường để người dự thi thể hiện được năng lực, kinh nghiệm, phẩm chất cá nhân trong chuyên môn và quản lý.

3- Quan điểm

- Bảo đảm và giữ vững nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp và toàn diện về công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; trong các khâu của quy trình tuyển chọn đều phải thông qua, có sự thống nhất, giám sát của cấp ủy cùng cấp và cơ quan chuyên môn theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ; chức và của các tổ chức đoàn thể của cơ quan, đơn vị tuyển chọn.

- Cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị, địa phương chịu trách nhiệm về tuyển chọn cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, đơn vị, địa phương được giao phụ trách.

- Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và chịu trách nhiệm; đồng thời đảm bảo công bằng, khách quan, công tâm, công khai, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh.

- Bảo đảm tính kế thừa, đồng bộ, liên thông với các khâu trong công tác cán bộ, đồng thời khắc phục hạn chế trong từng khâu của quy trình bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý hiện nay.

- Nội dung tuyển chọn phải phù hợp với vị trí của từng chức danh. Nội dung, hình thức, quy trình tuyển chọn phải tuân thủ các quy định của Đảng và Nhà nước và được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại trụ sở làm việc trước khi tuyển chọn.

- Người trúng tuyển là người có kết quả thi tuyển cao nhất và được cơ quan có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý tại đơn vị dự tuyển.

- Trong quá trình thực hiện vừa làm, vừa rút kinh nghiệm và bổ sung, sửa đổi phù hợp với thực tiễn.

4- Nguyên tắc thực hiện

- Các đảng đoàn, ban cán sự đảng, các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt của việc thực hiện thí điểm và quyết định lĩnh vực, đơn vị, chức danh thực hiện thí điểm đổi mới phương thức tuyển chọn thuộc phạm vi thẩm quyền quản lý.

- Việc tổ chức thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý phải bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh và đúng thẩm quyền theo phân cấp quản lý cán bộ; chọn được người giỏi nhất trong số những người đủ tiêu chuẩn, điều kiện đã dự thi để bổ nhiệm vào chức danh tuyển chọn.

- Không thực hiện thi tuyển đối với các chức vụ bầu cử, các chức danh được xác định là cán bộ theo quy định của Luật cán bộ, công chức hay trường hợp phân công cấp ủy viên đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo quản lý theo yêu cầu nhiệm vụ, các trường hợp luân chuyển điều động từ các vị trí chức danh lãnh đạo quản lý tới các vị trí, chức danh khác tương đương hoặc khi xem xét bổ nhiệm lại.

- Người tham gia dự tuyển phải bảo đảm về năng lực, trình độ chuyên môn và các điều kiện khác theo yêu cầu của chức danh tuyển chọn.

- Khi tổ chức thi tuyển phải có từ 02 người trở lên tham gia dự tuyển vào 01 chức danh tuyển chọn. Trường hợp chỉ có 01 người đủ tiêu chuẩn, điều kiện dự thi hoặc không có người đủ tiêu chuẩn, điều kiện dự thi thì tập thể lãnh đạo và cấp ủy của cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm có trách nhiệm báo cáo cấp trên đề cử thêm người ở cơ quan khác có đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia dự tuyển hoặc quyết định không thi và thực hiện việc bổ nhiệm đối với chức danh này.

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã quyết định danh sách người đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia dự tuyển bảo đảm có ít nhất 02 người dự tuyển vào 01 chức danh tuyển chọn, nhưng đến ngày tổ chức thi chỉ có 01 người dự thi thì có tổ chức thi theo kế hoạch hay thực hiện quy trình bổ nhiệm do cấp có thảm quyền quyết định.

5- Các chức danh thi tuyển

Chỉ thực hiện việc thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý đối với cán bộ, công chức, viên chức được bổ nhiệm lần đầu giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban Thường vụ tỉnh ủy quản lý, cấp phòng và tương đương ở các cơ quan hành chính của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các đơn vị sự nghiệp công lập từ tỉnh đến cấp huyện. Cụ thể như sau:

5.1- Các chức danh thi tuyển thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý

- Phó các ban đảng của Tỉnh ủy, Phó chánh Văn phòng Tỉnh ủy; Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập Báo Lào Cai; Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng Trường chính trị tỉnh Lào Cai.

- Trưởng, phó các sở, ban, ngành và tương đương; hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường chuyên nghiệp thuộc tỉnh.

- Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh.

5.2- Các chức danh thi tuyển thuộc UBND tỉnh quản lý

Trưởng, phó các chi cục, trung tâm và tương đương thuộc các sở, ban,  ngành, các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh, Hiệu trưởng trường Trung học Phổ thông Chuyên, Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh, Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp dạy nghề và giáo dục thường xuyên tỉnh và các chức danh thuộc diện UBND tỉnh quản lý theo phân cấp quản lý tổ chức, cán bộ của tỉnh.

5.3- Các chức danh thi tuyển thuộc các sở, ban, ngành và tương đương quản lý

- Trưởng, phó các phòng, đơn vị trực thuộc các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy; Trường Chính trị tỉnh; Báo Lào Cai; trưởng, phó các ban, phòng, đơn vị trực thuộc cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh.

- Phó các chi cục, trung tâm; hạt trưởng, phó hạt trưởng các hạt kiểm lâm; trưởng, phó các phòng và tương đương thuộc các sở, ban, ngành cấp tỉnh và các trường chuyên nghiệp thuộc tỉnh theo phân cấp quản lý tổ chức, cán bộ.

- Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông hạng I trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo.

5.4- Các chức danh thuộc thẩm quyền quản lý của các huyện, thành ủy và đảng ủy trực thuộc

- Phó các ban đảng, văn phòng huyện ủy, thành ủy, Đảng ủy Khối Các cơ quan tỉnh, Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh;

- Trưởng, phó các phòng, ban, trung tâm, đơn vị sự nghiệp và tương đương thuộc UBND các huyện, thành phố.

- Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non công lập tại các phường, thị trấn thuộc UBND các huyện, thành phố.

5.4- Lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động theo mô hình doanh nghiệp và các đơn vị được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, nhân sự.

6- Thời gian thực hiện thí điểm

Thực hiện thí điểm từ quý III năm 2017 đến hết năm 2019. Quý I năm 2020 tiến hành sơ kết, rút kinh nghiệm, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư về kết quả thực hiện thí điểm. 

III- Đối tượng, tiêu chuẩn, điều kiện, quyền, nghĩa vụ người dự tuyển, hồ sơ dự tuyển chọn cán bộ lãnh đạo quản lý

1- Đối tượng dự tuyển

1.1- Đối tượng đăng ký dự tuyển

1.1.1- Cán bộ, công chức, viên chức trong nguồn quy hoạch tại chỗ chức danh tuyển chọn đang công tác tại cơ quan, đơn vị có nhu cầu bổ nhiệm.

Đối tượng quy định tại khoản 1.1.1 này được quyền không đăng ký tham gia dự tuyển trong các trường hợp sau:

- Đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức hoặc bị ốm đau đang điều trị nội trú tại bệnh viện được cơ quan y tế có thẩm quyền từ cấp huyện trở lên xác nhận.

- Đang trong thời gian được cử đi học tập, đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài.

- Cán bộ, công chức, viên chức nữ đang trong thời gian nghỉ thai sản.

Ngoài các trường hợp được quyền không đăng ký tham gia dự tuyển nêu trên, đối tượng tại khoản 1.1.1 này nếu không đăng ký dự tuyển thì hàng năm khi rà soát lại danh sách quy hoạch, cơ quan có thẩm quyền đưa ra khỏi danh sách quy hoạch và không bổ nhiệm.

1.1.2- Cán bộ, công chức, viên chức đang công tác ở các địa phương, cơ quan, đơn vị khác trong và ngoài tỉnh (không thuộc biên chế của cơ quan, đơn vị có nhu cầu bổ nhiệm) mà có đủ điều kiện, tiêu chuẩn và nằm trong quy hoạch ở các chức vụ, chức danh tương đương với chức danh tuyển có chuyên môn phù hợp với vị trí việc làm của chức danh có nhu cầu bổ nhiệm được quyền đăng ký dự tuyển.

Đối tượng đăng ký tham gia dự tuyển quy định tại khoản 1.1 này nếu đang giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì được dự tuyển ở vị trí lãnh đạo, quản lý cao hơn không quá 2 cấp so với chức vụ hiện giữ (ví dụ: Phó trưởng phòng cấp tỉnh, trưởng phòng cấp huyện có thể được đăng ký dự tuyển ở chức vụ Phó giám đốc sở và tương đương. Trường hợp không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, khi dự tuyển ở vị trí lãnh đạo, quản lý cấp phòng thì phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện về ngạch công chức hoặc thời gian công tác trong ngành, lĩnh vực (nếu có) theo quy định tiêu chuẩn, điều kiện của chức danh tuyển chọn.

1.2- Đối tượng được đề cử dự tuyển

1.2.1- Cán bộ, công chức, viên chức không nằm trong quy hoạch của chức danh tuyển chọn hoặc chức danh tương đương với chức danh tuyển chọn (bao gồm cả trường hợp không công tác tại cơ quan, đơn vị có nhu cầu bổ nhiệm chức danh tuyển chọn) được tập thể lãnh đạo của cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm chức danh tuyển chọn đề cử và được cấp ủy của cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm chức danh đó đồng ý bằng văn bản.

1.2.2- Đối tượng được đề cử tham gia dự tuyển quy định tại khoản 1.2.2 này nếu đang giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì chỉ được dự tuyển ở vị trí lãnh đạo, quản lý cao hơn liền kề so với chức vụ hiện giữ (ví dụ: Phó trưởng phòng chỉ được dự tuyển chức danh trưởng phòng và tương đương; Trưởng phòng chỉ được dự tuyển chức danh phó giám đốc sở và tương đương). Trường hợp không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì phải có thời gian công tác trong ngành, lĩnh vực tối thiểu 03 năm (không kể thời gian tập sự, thử việc) và chỉ được đăng ký dự tuyển chức danh phó trưởng phòng và tương đương.

2- Quyền, nghĩa vụ của người tham gia dự tuyển

2.1- Quyền của người tham gia dự tuyển

- Được cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi tuyển thông báo về danh sách những người đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia dự tuyển, thời gian, địa điểm tổ chức thi tuyển, nội dung thi tuyển.

- Kể từ ngày công khai danh sách dự tuyển, người dự tuyển được quyền tiếp cận các tài liệu và thông tin liên quan đến vị trí dự tuyển (trừ những tài liệu mật) để có tư liệu cho việc tham gia thi viết và thi trình bày Đề án.

- Được tiến hành quy trình bổ nhiệm theo quy định ngay sau khi đạt kết quả tuyển chọn được cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm chức danh tuyển chọn thông qua.

2.2- Nghĩa vụ của người tham gia dự tuyển

- Kê khai hồ sơ trung thực và đúng quy định.

- Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các quy định của Hội đồng thi tuyển trong quá trình tham gia dự tuyển.

3- Tiêu chuẩn và điều kiện chung

- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy với nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Là cán bộ có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có lý lịch rõ ràng; chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Không tham ô, tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống mọi hành vi tham ô, tham nhũng.

- Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, không vụ lợi; gương mẫu về đạo đức, lối sống, được cán bộ, công chức, viên chức nơi công tác tín nhiệm; có khả năng quy tụ, tập hợp quần chúng, là trung tâm đoàn kết nội bộ.

3.1- Tiêu chuẩn

Đối tượng dự tuyển phải bảo đảm đủ các tiêu chuẩn sau:

a. Tiêu chuẩn chung của cán bộ lãnh đạo, quản lý; tiêu chuẩn cụ thể của chức danh có nhu cầu bổ nhiệm; có trình độ đại học trở lên, chuyên ngành phù hợp với vị trí chức danh có nhu cầu bổ nhiệm; 2 năm liền kề hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ trở lên; được cấp có thẩm quyền nhận xét, đánh giá bằng văn bản là có triển vọng phát triển.

b. Đủ tiêu chuẩn về trình độ lý luận chính trị của chức danh.

c. Đã được bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước theo quy định của chức danh lãnh đạo, quản lý.

d. Đáp ứng về tiêu chuẩn về ngoại ngữ, tin học (nếu có); về tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; về tiêu chuẩn về năng lực lãnh đạo, quản lý.

e. Có lịch sử chính trị, chính trị hiện nay, hồ sơ, lý lịch cá nhân rõ ràng, đầy đủ, được cơ quan chức năng thẩm định, xác nhận.

g. Không thuộc các trường hợp đang trong thời gian thi hành các hình thức kỷ luật; đang trong thời gian xem xét kỷ luật, điều tra, truy tố, xét xử; bị cấm đảm nhiệm chức vụ theo quy định của pháp luật.

h. Đáp ứng các điều kiện khác do cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm chức danh tuyển chọn quy định.

3.2- Điều kiện

a. Đảm bảo tuổi bổ nhiệm lần đầu theo quy định, khi cấp có thẩm quyền ban hành quyết định bổ nhiệm thì ít nhất phải đủ 5 năm công tác.

b. Bảo đảm điều kiện về tình trạng sức khỏe (đủ sức khoẻ để thực hiện tốt nhiệm vụ).

c. Tự nguyện đăng ký dự thi.

d. Đối tượng dự thi bổ nhiệm các chức danh diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý phải có ít nhất 3 năm kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, lĩnh vực có nhu cầu bổ nhiệm; dự tuyển các chức danh thuộc các cơ quan đảng phải là đảng viên.

e. Cán bộ công chức, viên chức đăng ký dự tuyển các chức danh trưởng ngành cấp tỉnh phải có thời gian đảm nhận chức vụ phó ngành và tương đương ít nhất 1 năm. Trường hợp đặc biệt do Ban Thường vụ Tỉnh ủy quyết định cho thi tuyển.

*Tùy từng chức danh lãnh đạo cần thi tuyển, căn cứ vào các văn bản quy định hiện hành, cấp có thẩm quyền sẽ thông báo về điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể trong thông báo và kế hoạch thi tuyển.

4- Hồ sơ đăng ký dự tuyển

Hồ sơ dự tuyển gồm:

4.1- Đơn đăng ký dự tuyển.

4.2- Sơ yếu lý lịch (do cá nhân tự khai theo mẫu quy định do cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi tuyển cung cấp), được cơ quan nơi cán bộ, công chức, viên chức tham gia dự tuyển đang công tác xác nhận tại thời điểm đăng ký dự tuyển.

4.3- Bản sao lý lịch gốc đảng viên (đối với những chức danh yêu cầu là đảng viên).

4.4- Bản sao các văn bằng, chứng chỉ theo yêu cầu của chức danh tuyển chọn, có chứng thực của cơ quan chức năng;

4.5- Bản kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật tại thời điểm đăng ký dự tuyển;

4.6- Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp trong thời hạn 30 ngày, tính đến ngày nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển;

4.7- Bản nhận xét, đánh giá của tập thể lãnh đạo và cấp ủy nơi người tham gia dự tuyển đang công tác về tiêu chuẩn chính trị, tiêu chuẩn cán bộ, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác trong 03 năm gần nhất.

4.8- Trường họp người tham gia dự tuyển (đăng ký tham gia dự tuyển hoặc được đề cử tham gia dự tuyển) từ nơi khác thì phải có ý kiến bằng văn bản của cơ quan trực tiếp quản lý nơi người tham gia dự tuyển đang công tác đồng ý cho phép dự tuyển.

4.9- Bản nhận xét của cấp ủy, địa phương nơi cư trú thường xuyên về trách nhiệm công dân của người tham gia dự tuyển và gia đình.

IV- Các nội dung thí điểm đổi mới tuyển chọn cán bộ lãnh đạo quản lý

1- Trình tự, thủ tục

1.1- Cơ quan có nhu cầu bổ nhiệm cán bộ có văn bản báo cáo, đề nghị cấp có thẩm quyền quản lý tổ chức, cán bộ về nhu cầu bổ nhiệm cán bộ.

1.2- Ban Tổ chức cấp ủy (phòng tổ chức hoặc cơ quan tham mưu về công tác cán bộ) rà soát, đề xuất việc tổ chức thi tuyển đối với vị trí chức danh có nhu cầu bổ nhiệm trình ban thường vụ cấp ủy (hoặc tập thể lãnh đạo) cho chủ trương.

1.3- Sau khi có chủ trương, Ban Tổ chức cấp ủy (phòng tổ chức hoặc hoặc cơ quan tham mưu về công tác cán bộ) tiến hành thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng (Báo Lào Cai, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, cổng thông tin điện tử tỉnh) về vị trí chức danh thi tuyển, bổ nhiệm; điều kiện, tiêu chuẩn, thời gian để các đối tượng đăng ký dự thi. Thời hạn nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển ít nhất là 15 ngày làm việc kể từ ngày thông báo.

1.4- Thẩm định hồ sơ

Sau khi tiếp nhận hồ sơ dự tuyển; rà soát điều kiện, tiêu chuẩn của các đối tượng dự tuyển tại Điều 3, trong thời hạn từ 05 đến 10 ngày làm việc (tùy theo số lượng hồ sơ đăng ký) kể từ ngày hết hạn nhận hồ sơ, Ban tổ chức cấp ủy (phòng tổ chức hoặc hoặc cơ quan tham mưu về công tác cán bộ) chủ trì phối hợp với Ủy ban kiểm tra (cơ quan thanh tra), đại diện lãnh đạo của cơ quan, đơn vị có nhu bổ nhiệm thẩm định hồ sơ, quá trình công tác, lịch sử chính trị, chính trị hiện nay của các cá nhân dự tuyển và đề cử, báo cáo ban thường vụ cấp ủy (thường trực cấp ủy) hoặc tập thể lãnh đạo (theo phân cấp quản lý cán bộ) quyết định phê duyệt danh sách dự thi.

Danh sách những người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia dự tuyển, sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải được công khai trên trang thông tin điện tử và niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm chức danh tuyển chọn và cơ quan sử dụng chức danh tuyển chọn trong thời hạn 15 ngày trước khi tổ chức thi tuyển để cán bộ, công chức, viên chức và các tổ chức đoàn thể kiểm tra, giám sát. Đồng thời, thông báo cho người dự thi biết về thời gian, địa điểm tổ chức thi, nội dung, lĩnh vực thi.

2- Hội đồng thi tuyển

2.1- Cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm chức danh tuyển chọn thành lập Hội đồng thi tuyển (theo phân cấp quản lý cán bộ), như sau:

a. Đối với Hội đồng thi tuyển bổ nhiệm chức danh diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý: (1) Chủ tịch Hội đồng thi tuyển là đồng chí Bí thư Tỉnh ủy; (2) Thư ký Hội đồng thi tuyển là đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy; (3) Các thành viên còn lại của Hội đồng thi tuyển: Các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy (hoặc 70% số thành viên trong Ban Thường vụ cấp ủy tham gia Hội đồng thi tuyển); đồng chí Giám đốc Sở Nội vụ (đối với cơ quan thuộc khối Chính quyền); Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có nhu cầu bổ nhiệm chức danh thi tuyển.

b. Đối với Hội đồng thi tuyển bổ nhiệm chức danh diện Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý: (1) Chủ tịch Hội đồng thi tuyển là đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh; (2) Thư ký Hội đồng thi tuyển là đồng chí Giám đốc Sở Nội vụ; (3) Các thành viên Hội đồng thi tuyển là các Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Thủ trưởng sở, ngành, Bí thư cấp ủy (trường hợp thủ trưởng cơ quan không phải bí thư cấp ủy) cơ quan, đơn vị nơi có nhu cầu bổ nhiệm cán bộ.

c. Hội đồng thi tuyển bổ nhiệm chức danh trưởng, phó phòng và tương đương thuộc sở, ban, ngành: (1) Chủ tịch Hội đồng thi tuyển là đồng chí Thủ trưởng cơ quan, đơn vị; (2) Thư ký Hội đồng là đồng chí trưởng phòng tổ chức (Chánh văn phòng hoặc thủ trưởng cơ quan tham mưu công tác cán bộ); (3) Các thành viên còn lại của Hội đồng thi tuyển là các đồng chí trong Tập thể lãnh đạo sở, ngành; đại diện cấp ủy cơ quan, đơn vị nơi có nhu cầu bổ nhiệm cán bộ.

d. Hội đồng thi tuyển bổ nhiệm trưởng, phó phòng, ban và tương đương thuộc diện ban thường vụ huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh quản lý: (1) Chủ tịch Hội đồng thi tuyển là đồng chí Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh; (2) Thư ký Hội đồng thi tuyển là đồng chí Trưởng Ban Tổ chức; (3) Các thành viên còn lại của Hội đồng thi tuyển: Các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ cấp ủy (hoặc 70% số thành viên trong Ban Thường vụ cấp ủy tham gia Hội đồng thi tuyển); Trưởng phòng Nội vụ; Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có nhu cầu bổ nhiệm chức danh thi tuyển.

Không cử làm thành viên Hội đồng thi tuyển đối với những người là cha, mẹ, anh, chị, em ruột của bên vợ hoặc chồng, vợ hoặc chồng của người tham gia dự tuyển và những người đang trong thời gian bị xem xét xử lý kỷ luật hoặc đang thi hành quyết định kỷ luật. Trường hợp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được cơ cấu tham gia Hội đồng thi tuyển nhưng thuộc trường hợp không được cử tham gia Hội đồng thi tuyển theo quy định này thì cử cấp phó của người đứng đầu tham gia.

Hội đồng thi tuyển chỉ làm việc khi có ít nhất 2/3 số lượng Ủy viên Ban Thường vụ cấp ủy; tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị cấp có thẩm quyền bổ nhiệm cán bộ có mặt tham gia hội đồng thi.

Khi thi tuyển ở các chức danh có chuyên ngành hẹp, tính chuyên môn cao, hội đồng thi tuyển có thể mời các chuyên gia, nhà khoa học am hiểu về chuyên ngành, lĩnh vực của người tham gia dự tuyển (tùy từng chức danh tuyển chọn nếu thấy cần thiết phải có chuyên gia, nhà khoa học tham gia Hội đồng thi tuyển).

2.2- Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng thi tuyển

- Thành lập bộ phận giúp việc, gồm: Ban ra đề thi (để xây dựng các bộ đề thi viết và thang điểm của từng đề thi viết cho chức danh dự tuyển); Ban coi thi và Ban phách;

- Tổ chức chấm điểm bài thi viết (người chấm được lựa chọn trong thành phần Hội đồng thi tuyển và do Chủ tịch Hội đồng thi tuyển quyết định về số lượng, thành viên cụ thể) và chấm điểm trình bày Đề án của người dự tuyển (toàn bộ thành viện Hội đồng thi tuyển tham gia chấm điểm trình bày Đề án); thông báo kết quả thi đến người dự tuyển;

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức thi.

- Hội đồng thi tuyển quyết định kết quả thi tuyển của người dự thi.

3- Bộ phận giúp việc Hội đồng thi

3.1- Ban ra Đề thi

- Thành phần bao gồm: đại diện ban tổ chức cấp ủy (phòng tổ chức, văn phòng, cấp ủy của cấp quản lý trực tiếp), Ủy ban kiểm tra (cơ quan thanh tra), Ban Tuyên giáo cấp ủy, các chuyên gia mời tham gia theo lĩnh vực.

a. Đối với các chức danh diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý: Đại diện lãnh đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Trường Chính trị tỉnh, thủ trưởng cơ quan có nhu cầu bổ nhiệm cán bộ (đối với trường hợp bổ nhiệm cấp phó) và các chuyên gia mời tham gia theo lĩnh vực.

b. Đối với các chức danh diện Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý: Đại diện lãnh đạo Sở Nội vụ, Thanh tra tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trường Chính trị tỉnh, thủ trưởng cơ quan chủ quản trực tiếp nơi có nhu cầu bổ nhiệm cán bộ.

c. Đối với các chức danh trưởng, phó phòng và tương đương thuộc sở, ban, ngành và tương đương: Đại diện cấp ủy cơ quan, lãnh đạo các cơ quan tham mưu về công tác cán bộ, thanh tra và mời lãnh đạo một số lãnh đạo phòng chuyên môn thuộc Sở Nội vụ, Trường Chính trị tỉnh tham gia theo lĩnh vực phù hợp.

d. Đối với các chức danh trưởng, phó phòng, ban và tương đương thuộc diện ban thường vụ huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh quản lý: Đại diện lãnh đạo ban tổ chức, Ủy ban kiểm tra, ban tuyên giáo cấp ủy, cơ quan Nội vụ, Thanh tra huyện, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị, Phòng Giáo dục và Đào tạo, thủ trưởng cơ quan có nhu cầu bổ nhiệm cán bộ (đối với trường hợp bổ nhiệm cấp phó) và đại diện lãnh đạo một số phòng, ban thuộc các sở, ban, ngành tỉnh mời tham gia theo lĩnh vực.

- Nhiệm vụ: Tham mưu, giúp Hội đồng thi tuyển (xây dựng ngân hàng Đề thi viết và thang điểm của từng đề thi viết cho chức danh dự tuyển và đáp án chấm thi).

3.2- Ban coi thi: Gồm một số đồng chí trong Hội đồng thi và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan.

3.3- Ban phách: Gồm 03 đồng chí thành viên Hội đồng thi do đồng chí Chủ tịch phân công.

4- Tổ chức thi tuyển

4.1- Tổ chức thi viết 

- Nội dung thi viết: kiến thức chung về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chuyên ngành, lĩnh vực dự tuyển; hiểu biết về nghiệp vụ quản lý chuyên ngành, lĩnh vực thi tuyển; về chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của chức danh dự tuyển và các nội dung khác do Hội đồng thi tuyển quy định.

- Chủ tịch Hội đồng thi tuyển quyết định chọn đề thi viết trong các đề thi do Ban ra đề thi chuẩn bị, bảo đảm bí mật đề thi theo chế độ tài liệu tối mật trong suốt quá trình xây dựng ngân hàng đề thi cho đến khi công bố đề thi viết được chọn.

- Chủ tịch Hội đồng thi tuyển chỉ đạo Ban coi thi tổ chức thi viết được chấm theo thang điểm 100.

- Chậm nhất sau 03 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức thi viết, Chủ tịch Hội đồng thi tuyển quyết định chọn ít nhất 03 thành viên Hội đồng thi tuyển để thực hiện việc chấm bài thi viết theo đáp án đã được Ban ra đề thi xây dựng. Bài thi viết phải được rọc phách theo quy định trước khi chuyển đến các thành viên Hội đồng thi tuyển được chọn để chấm thi.

Các thành viên Hội đồng thi tuyển chấm bài thi viết độc lập và trong thời hạn 02 ngày làm việc phải gửi kết quả chấm thi cho thư ký Hội đồng thi tuyển để tồng hợp, báo cáo Hội đồng thi tuyển trước khi thông báo đến người dự tuyển.

- Kết quả bài thi viết là điểm trung bình cộng của các thành viên Hội đồng thi tuyển tham gia chấm thi. Người dự tuyển phải có kết quả bài thi viết đạt từ 50 điểm trở lên mới được tham gia phần thi trình bày Đề án. Trường hợp người dự tuyển có kết quả bài thi viết đạt từ 50 điểm trở lên, nhưng có 02 thành viên Hội đồng thi tuyển chấm điểm bài thi viết dưới 50 điểm thì Thư ký Hội đồng thi tuyển phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi tuyển xem xét, quyết định việc chấm lại đối với bài thi này.

- Chậm nhất sau 03 ngày làm việc kể từ ngày chấm thi viết xong, Hội đồng thi tuyển phải thông báo kết quả chấm bài thi viết đến người dự tuyển. Người dự tuyển được quyền gửi đơn đề nghị phúc khảo trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả chấm thi.

- Chậm nhất sau 03 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn nhận đơn phúc khảo, Chủ tịch Hội đồng thi tuyển quyết định chọn ít nhất 03 thành viên khác (không phải những người đã chấm bài thi trước khi phúc khảo) của Hội đồng thi tuyển để thực hiện việc chấm phúc khảo bài thi viết và thông báo kết quả đến người dự tuyển có đơn đề nghị phúc khảo.

Các thành viên Hội đồng thi tuyển chấm phúc khảo bài thi viết độc lập và trong thời hạn 02 ngày làm việc phải gửi kết quả chấm phúc khảo cho Thư ký Hội đồng thi tuyển để tổng hợp, báo cáo Hội đồng thi tuyển trước khi thông báo đến người dự tuyển có đơn đề nghị phúc khảo.

Chậm nhất sau 03 ngày làm việc kể từ ngày chấm phúc khảo xong, Hội đồng thi tuyển thông báo kết quả đến người dự tuyển có đơn đề nghị phúc khảo.

- Chậm nhất sau 05 ngày làm việc kể từ ngày thông báo kết quả chấm thi viết (trường hợp có đơn đề nghị phúc khảo thì chậm nhất sau 05 ngày làm việc kể từ ngày thông báo kết quả chấm phúc khảo), Hội đồng thi tuyển phải có văn bản thông báo để người dự tuyển có kết quả bài thi viết đạt 50 điểm trở lên tham gia phần thi trình bày Đề án.

* Trường hợp thi vào các vị trí lãnh đạo các sở, ban ngành có yêu cầu tiêu chuẩn ngạch là chuyên viên chính trở lên thì có thể không tổ chức thi viết, mà thay bằng chấm điểm hồ sơ dự tuyển.

4.2- Tổ chức thi trình bày Đề án

Người dự tuyển sau khi đạt bài thi viết (từ 50 điểm trở lên) sẽ phải xây dựng trình bày Đề án của mình phù hợp với chức danh dự tuyển. Đề tài thi tuyển đối với từng chức danh: Do cơ quan có nhu cầu tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ đề xuất với cấp có thẩm quyền, thống nhất giao nội dung đề án và chương trình hành động phù hợp với lĩnh vực, chuyên ngành và yêu cầu của vị trí, chức danh thi tuyển.

4.2.1- Nội dung thi trình bày Đề án gồm: đánh giá thực trạng, phân tích những mặt mạnh, hạn chế của đơn vị sử dụng chức danh tuyển chọn và chỉ ra nguyên nhân; dự báo xu hướng phát triển và đề xuất kế hoạch, giải pháp phát triển cơ quan, đơn vị sử dụng chức danh tuyển chọn; chương trình hành động thực hiện các kế hoạch, giải pháp của người dự tuyển nếu được bổ nhiệm vào chức danh tuyển chọn; kỹ năng trình bày, giao tiếp, ứng xử, giải quyết tình huống quản lý, phong cách lãnh đạo; trả lời các câu hỏi chất vấn của Hội đồng thi tuyển và những người tham dự.

Đề án phải được in, chế bản (hình thức trình bày, font, cỡ chữ theo quy định) và đóng quyển theo khổ giấy A4, gửi cho Hội đồng thi tuyển ngay trước khi bảo vệ Đề án.

4.2.2- Thành phần những người tham dự phần trình bày Đề án của người dự tuyển, gồm:

- Toàn bộ Hội đồng thi tuyển.

- Cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt, đại diện của các tổ chức đoàn thể trong cơ quan sử dụng chức danh tuyển chọn và cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan sử dụng chức danh tuyển chọn được quyền đăng ký tham dự và chất vấn người dự tuyển.

Chủ tịch Hội đồng thi tuyển điều hành và quyết định việc người dự tuyển phải trả lời câu hỏi chất vấn của những người tham dự, bảo đảm đúng vị trí tuyển chọn và thời gian trả lời chất vấn của người dự tuyển.

4.2.3- Trình tự thi

- Bộ phận giúp việc hội đồng thi tuyển thông báo danh sách Hội đồng thi tuyển, kết quả thẩm định, kết quả thi viết đối với từng đối tượng dự thi.

- Đối tượng dự thi bốc thăm thứ tự trình bày đề án, trả lời các câu hỏi chất vấn của Hội đồng thi tuyển và những người tham gia.

- Người dự thi trình bày đề án và chương trình hành động bằng công cụ trình chiếu power point.

- Sau khi người dự thi trình bày đề án, các thành viên Hội đồng thi tuyển đặt câu hỏi phản biện để người dự thi trả lời. Đối với mỗi người dự thi, mỗi thành viên Hội đồng phải đặt ít nhất từ 01 câu hỏi. Câu hỏi của các thành viên Hội đồng thi tuyển phải liên quan trực tiếp đến lĩnh vực thi tuyển, góp phần làm rõ nội dung đã trình bày trong chương trình hành động hoặc những câu hỏi chuyên sâu, đánh giá sự hiểu biết, kinh nghiệm, tư duy, giải quyết tình huống của người dự thi. Không nêu những câu hỏi mang tính gợi ý, giải đáp giúp người dự thi hoặc thể hiện quan điểm cá nhân về người dự thi

- Chủ tịch Hội đồng thi tuyển điều hành và quyết định việc người dự tuyển phải trả lời câu hỏi chất vấn của những người tham dự, bảo đảm đúng yêu cầu của chức danh tuyển chọn và thời gian trả lời chất vấn của người dự tuyển.

4.2.4- Thời gian trình bày Đề án tối đa 45 phút. Thời gian trả lời các câu hỏi chất vấn về Đề án từ 60 phút đến 90 phút; thời gian trả lời mỗi câu hỏi chất vấn không quá 5 phút.

4.2.5- Điểm thi trình bày Đề án được chấm theo thang điểm 100. Cơ cấu điểm gồm 3 phần, cụ thể như sau:

(1) Xây dựng đề án: 20 điểm;

(2) Bảo vệ đề án: 40 điểm;

(3) Trả lời các câu hỏi chất vấn: 40 điểm (trên cơ sở các nội dung chủ yếu: đánh giá được thực trạng, phân tích những mặt mạnh, hạn chế của của đơn vị; dự báo xu thế phát triển của đơn vị; đề xuất kế hoạch, giải pháp phát triển đơn vị và chương trình hành động thực hiện các kế hoạch, giải pháp; đánh giá kỹ năng trình bày, giao tiếp, ứng xử, giải quyết tình huống quản lý, phong cách lãnh đạo, quản lý; đánh giá sự am hiểu, tư duy sáng tạo, đột phá liên quan đến lĩnh vực dự thi).

Các thành viên Hội đồng thi tuyển thực hiện chấm điểm thi trình bày Đề án của người dự tuyển theo từng phần và gửi kết quả chấm thi (tổng số của cả 3 phần) cho Thư ký Hội đồng thi tuyển để tổng hợp, báo cáo Hội đồng thi tuyển trước khi công bố.

4.2.6- Kết quả điểm thi trình bày Đề án của người dự tuyển là điểm trung bình cộng của các thành viên Hội đồng thi tuyển tham gia chấm thi. Trường hợp có thành viên Hội đồng thi tuyển cho tổng số điểm chênh lệch (cao hơn hoặc thấp hơn) từ 20% trở lên so với điểm trung bình cộng của các thành viên Hội đồng thi tuyển tham gia chấm thi thì điểm của thành viên này không được tính; kết quả điểm thi trình bày Đề án của người dự tuyển được tính theo kết quả cho điểm của các thành viên còn lại của Hội đồng thi tuyển.

- Hội đồng thi tuyển phải công bố công khai kết quả điểm thi trình bày Đề án của những người dự tuyển ngay sau khi kết thúc việc tổ chức thi trình bày Đề án. Không thực hiện việc phúc khảo đối với kết quả điểm thi trình bày Đề án.

5- Xác định người trúng tuyển và bổ nhiệm người trúng tuyển

- Trên cơ sở kết quả điểm thi trình bày Đề án của người dự tuyển được Hội đồng thi tuyển công bố, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm chức danh tuyển chọn lấy người có số điểm thi trình bày Đề án cao nhất trong số những người đạt 50 điểm trở lên. Trường hợp có nhiều người cùng có kết quả điểm thi trình bày Đề án cao nhất bằng nhau thì lựa chọn người có só điểm bài thi viết cao hơn; trường hợp vẫn bằng điểm nhau thì do cấp có thẩm quyền bỏ phiếu quyết định lựa chọn.

- Chậm nhất sau 03 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức thi trình bày Đề án xong, nếu không phát hiện có sai phạm trong quá trình tổ chức tuyển chọn thì người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm chức danh tuyển chọn ban hành Quyết định bổ nhiệm người trúng tuyển.

6- Nguyên tắc lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ

Cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm cán bộ căn cứ kết quả thi tuyển, hồ sơ cán bộ và yêu cầu nhiệm vụ, tiến hành đánh giá, lựa chọn xem xét bổ nhiệm có thời hạn vào vị trí chức danh có nhu cầu bổ nhiệm đối với đối tượng dự thi có kết quả thi trình bày đề án cao nhất đạt 50 điểm trở lên.

Căn cứ kết quả thi tuyển, tiêu chuẩn, điều kiện của người dự thi, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, thành ủy, huyện ủy, đảng ủy, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị xem xét quyết định bổ nhiệm cán bộ.

Người có điểm thi cao thứ hai (cũng phải đạt tối thiểu 50 điểm trở lên) được bảo lưu kết quả thi trong vòng 01 năm (12 tháng), kể từ ngày công bố kết quả thi để làm cơ sở cho việc bổ nhiệm chức danh đã đăng ký dự thi khi có nhu cầu hoặc chức danh tương đương có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tương đồng.

7- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác bảo đảm an ninh trong thời gian thi tuyển

- Trường hợp có đơn khiếu nại, tố cáo, cấp có thảm quyền chỉ đạo xem xét, giải quyết trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, tố cáo (theo dấu bưu điện hoặc dấu “văn bản đến” của văn phòng). Không xem xét giải quyết đơn tố cáo, khiếu nại nặc danh.

- Tài liệu của kỳ thi gồm: Hồ sơ của người dự thi; Đề án của người dự thi; các văn bản, biên bản quy định về thang điểm, bảng điểm, phiếu chấm điểm; Phiếu chấm điểm của các thành viên Hội đồng thi và Bảng tổng hợp điểm.

- Trong vòng 10 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ thi, Tổ giúp việc có trách nhiệm bàn giao “Tài liệu của kỳ thi” về bộ phận phụ trách công tác cán bộ cơ quan để lưu trữ, quản lý. “Tài liệu của kỳ thi” được lưu trữ 02 năm kể từ ngày công bố kết quả thi.

Phần III

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1- Ban Tổ chức Tỉnh ủy chù trì, phối hợp với Sở Nội vụ xây dựng kế hoạch thực hiện đối với cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý từng năm và từng chức danh; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện thí điểm Đề án đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban Thường vụ tỉnh ủy quản lý; lãnh đạo, quản lý cấp phòng các cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính chính trị - xã hội của tỉnh.

2- Sở Nội vụ chủ trì xây dựng kế hoạch thực hiện; phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc triển khai thực hiện Đề án thi tuyển chức danh công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh.

3- Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy và Sở Nội vụ cân đối nguồn ngân sách, bố trí kinh phí và hướng dẫn lập dự toán kinh phí triển khai thực hiện thí điểm Đề án theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan.

4- Các huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc, đảng đoàn, ban cán sự đảng, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh, các cơ quan, đơn vị chủ động chỉ đạo thực hiện chủ trương này; quyết định lĩnh vực, đơn vị và chức danh thực hiện thí điểm; xây dựng kế hoạch, quy chế thực hiện thí điểm tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý thông qua thi tuyển.

5- Ban Tổ chức Tỉnh ủy theo dõi, hướng dẫn triển khai  thực hiện; đánh giá sơ kết, tổng kết, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy việc triển khai thực hiện thí điểm Đề án.

6- Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp tổ chức thông tin báo chí công khai vị trí các chức danh thi tuyển trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy phối hợp thực hiện kiểm tra giám sát việc thực hiện Đề án.

Trong quá trình tổ chức thực hiện có khó khăn, vướng mắc báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy (qua Ban Tổ chức tỉnh ủy, Sở Nội vụ) để xem xét báo cáo Thường trực Tỉnh ủy, Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh cho ý kiến chỉ đạo, thực hiện./.

 

Nơi nhận:   

- Ban Tổ chức Trung ương;     

- Bộ Nội vụ;

- Các đ/c Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ;

- Các CQ chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy;

- Ban Tổ chức Tỉnh ủy (05 bản);

- Các đảng đoàn, ban cán sự đảng;

- Các huyện ủy, thành uỷ, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy;

- Các sở, ban, ngành, MTTQ, đoàn thể và tương đương tỉnh;

- Lãnh đạo Văn phòng Tỉnh ủy;

- Chuyên viên TH, KT-XH;

- Lưu VP, BTC.                                                          

T/M BAN THƯỜNG VỤ

BÍ THƯ

 

 

Đã ký

 

 

 

 

Nguyễn Văn Vịnh